Thứ Tư, 16 tháng 1, 2013

NHÌN MỘT LẦN CHO RÕ MẶT OAN KHIÊN




Sáng nay những tia nắng trong veo như một lớp sơn màu hổ phách quét lên bãi cỏ dại bên kia đường làm óng lên những mảng xanh lục biếc,chim hót rộn ràng trong vườn thông của villa đối diện.

Trước sân nhà tôi lổn ngổn mấy con giun ông hàng xóm đào về câu cá đang ngo ngoe.Hai ba con chim sà xuống,một con nhanh mỏ phụp một phát,chỉ còn thấy một chút đuôi giun ngo ngoe thòi ra bên mép cái mỏ đói ăn.Ông hàng xóm vội vàng vơ mấy con giun còn lại bỏ vào lon rồi xách cần câu rồ máy xe ra đi.

Thế là sẽ có một số cá được khoái khẩu với món điểm tâm béo bổ sáng nay,và ông hàng xóm cũng sẽ được khoái khẩu với món cá chiên trưa nay.Biết đâu chiều nay trong một quán nhậu nào đó cũng có người khoái khẩu với món chim rô ti.Rồi biết đâu tối nay trên một con đường nào đó có kẻ say ngất ngưỡng đâm đầu vào bánh xe tải...Thế là"cho trăm năm vào chết một ngày."(Trịnh Công Sơn-Cát Bụi-)

Mới sáng sớm đẹp trời mà nói chuyện chết chóc thì rõ"khéo lo bò trắng răng",hehe.Nhưng quả thật ai"chưa thấy quan tài chưa đổ lệ".Cái món hàng mà "người mua thì không dùng,người dùng thì không mua"ấy chỉ làm rơi lệ người mua thôi (thời buổi này đang cấm rừng nên gỗ đắt lắm ! ),còn người dùng thì chắc phải hồ hởi như Kahlil Gibran từng nói :"Chỉ khi nào lòng đất đòi tứ chi các ngươi mới thực sự khiêu vũ."

Tôi có một ông bạn nhà thơ cũng từng viết được hai câu thơ tương tự :

"Sống là thơ mộng mà chơi."

Khi viết câu đó ổng đang bệnh,ăn không được,nói phều phào,chân đi run run,tay cầm bút cũng run run nên viết quên bỏ dấu.Không biết có phải nguyên văn là"thở mỏng"không,mà bạn bè khỏe mạnh thì cứ đọc là"thơ mộng",hehehehe.

"Chết là nhảy giữa giọng cười Hư Không."

Cho đến bây giờ ổng vẫn chưa chết,nhưng lúc đó có lẽ do chân run quá nên ổng mơ tưởng đến một trận nhảy nhót đã đời,hehehehe.

Cái chết được thơ mộng hóa như thế đấy,còn sự thực ra sao thì"đoạn trường ai có qua cầu mới hay",hehe.Nhưng cái chết có lẽ cũng không mấy xa lạ với cái sống.Tôi nhớ có một câu thơ của Xuân Diệu :

"Yêu là chết trong lòng một ít."

Từ đó tôi bèn suy ra : 

"Có nghĩa rằng yêu ít chết ít thôi.
Ai yêu nhiều thì phải chết gấp đôi.
Yêu là chết...
Mà sống là yêu vậy."  Hehehehe

Mỗi ngày không biết có bao nhiêu là người chết đi.Cứ nghe đài,đọc báo,xem TV,hỏi y tá bác sĩ trong bệnh viện hoặc công ty mai táng sẽ rõ.(Cái khoản này không ai tiếp thị khuyến mãi mà sao cứ đắt hàng mới lạ chứ ! ).Cùng lúc ấy không biết bao nhiêu là trẻ sơ sinh ra đời.Giá như ta xem được thống kê của tất cả các nhà hộ sinh trên thế giới sẽ thấy con số ấy lớn đến mức nào.Nhưng con số ấy sẽ càng khủng khiếp hơn nếu như kế hoạch hóa gia đình chưa đươc triển khai trên qui mô toàn cầu,hehehe.

Bức tranh sinh diệt không giới hạn ở loài người mà trải rộng khắp muôn loài,từ những loài li ti mắt không thấy được đến con sâu cái kiến lá cõ cành cây.Đó là bản Giao Hưởng Vĩ Đại của Tự Nhiên.Khi chiếc đũa Thần nâng lên thì muôn lớp sóng dâng trào.Khi chiếc đũa Thần hạ xuống thì ngàn lớp sóng lắng sâu.Và cứ thế,hàng hàng lớp lớp sóng đun đẩy nhau trong một vũ điệu xoay tròn bất tận,không thể biết đâu là khởi nguyên đâu là chung cuộc.

Ngày nay khoa sinh vật học và sinh thái học đã cho chúng ta không ít kiến thức về chuỗi thức ăn trong mắc xích của hệ sinh thái khiến chúng ta phải nhớ lại câu nói chí lý của ông bà xưa :"Cá ăn kiến,kiến lại ăn cá."Rồi ông bà cũng nhận xét :"Miếng ăn là miếng tồi tàn."Mới nghe qua thì thấy sao mà tiêu cực thế ! Xã hội phải phát triển để cho"ai cũng có cơm ăn,ai cũng được học hành."Đúng thế thật,thời buổi này quán ăn lề đường mọc lên như cỏ,nhà hàng khách sạn mọc lên như nấm...Nhưng nghĩ kỹ lại mới thấy ông bà xưa sao mà minh triết thế,đã chỉ ra được khía cạnh phủ phàng của cái miếng ăn.Chính vì miếng ăn của mình mà loài này trở thành tử thần của loài kia,người này trở thành kẻ thù của người nọ !

Triết học Phật giáo có một cách nhìn thức ăn rất thú vị.Thức ăn được phân loại thành bốn nhóm :

1.Đoạn thực :là các loại thức ăn vật chất thông thường.
2.Xúc thực : là thức ăn sinh ra do sự tiếp xúc của sáu căn (mắt tai mũi lưỡi thân ý ) với sáu cảnh (hình dạng âm thanh mùi vị tư tưởng).
3.Thức thực : là thức ăn sinh ra do hoạt động của Thức uẩn.
4.Tư niệm thực : là thức ăn sinh ra do 3 thứ Ái :
                           a).Dục Ai : là sự khát khao khoái lạc giác quan.Ở đời ai mà chẳng thích ăn ngon mặc đẹp,xe hơi nhà lầu,giàu sang phú quí,hehe.
                            b).Hữu Ái : là sự khát khao tồn tại và trở thành.Ở đời ai mà chẳng tham sống sợ chết,muốn trỏ thành ông nọ bà kia,muốn đi tu để thành Tiên thành Phật,hehe.
                             c).Diệt Ái : là sự khát khao tự hủy diệt.Ai cũng biết thuốc lá gây ung thư phổi nhưng vẫn thích phì phèo.Ai cũng biết bia rượu gây xơ gan chết sớm nhưng vẫn khoái rủ nhau chiều chiều ra quán,hehe.

Chính Tư Niệm Thực này là ý chí muốn sống,là động lưc làm quay bánh xe sinh tử,là Nghiệp.Tôi nhớ lại truyện ngắn "Tình Yêu Cuộc Sống "của nhà văn Mỹ Jack London mô tả thật ấn tượng bức tranh lạnh lùng đến kinh khiếp của khát vọng sống :"Một kẻ tìm vàng kiệt sức và một con sói già cũng đang kiệt sức rình rập nhau từng giây phút một cách kiên trì chỉ để giành giật lấy sự sống cho bản thân."

Ngày xưa Đức Phật đã giảng giải Chân Lý này bằng nhiều ví dụ hình ảnh được ghi lại trong các bộ Kinh mà đời sau đã đúc kết để xây dựng nên hệ thống Thập Nhịi Nhân Duyên với hình ảnh bánh xe Luân Hồi và đã trở thành biểu tượng đặc trưng của Triết học Phật Giáo.Ta hãy thử tìm hiểu thế nào là Thập Nhị Nhân Duyên,không chỉ dưới góc độ của Phật Tử mà còn là góc độ của một lữ khách tựa lưng dưới gốc cây bồ đề trước hiên chùa thả hồn theo tiếng chuông chiều lãng đãng.

"Ngày đã trôi qua,chim đã thôi ca hót
Gió đã lặng lờ uể oải dừng cơn.
Xin hãy phủ lên tôi tấm chăn đơn màu tối
Như giấc ngủ đong đưa trái đất trong nôi.

Kìa những bông sen đang dịu dàng khép cánh
Khi bóng chiều đã buông rủ xuống rồi.
Xin đừng để tôi túng nghèo tủi hổ
Túi rỗng không,quần áo bết bụi đường.
Khi vẫn còn chưa dứt cuộc hành hương
Đã tơi tả bởi sức mòn lực kiệt.

Xin hãy làm cho đời tôi thanh khiết
Và tinh khôi như hoa nở giữa đêm."

              R.Tagore -Tâm Tình Hiến Dâng-

Tưởng cũng nên lướt qua khái niệm Duyên Nghiệp một chút trước khi đi sâu vào hệ thống Thập Nhị Nhân Duyên.Hãy giả dụ như bạn đang chơi bi da (môn thể thao quốc tế mà VN được xếp vào loại tầm cỡ đấy nhé,hehe).Bạn thọc một cơ vào trái bi đỏ là bạn đã tạo nên một Nghiệp.Nghiệp là hành động xuất phát từ ý muốn.Trường hợp ở đây là bạn tạo Nghiệp từ ý chí muốn chiến thắng cuộc chơi.Trái bi đỏ chạm vào trái bi trắng là nó đã tạo một Duyên.Trái bi trắng va vào thành bàn dội lại trúng trái bi hai màu là thêm một Duyên nữa.Trái bi hai màu tà tà lăn xuống lỗ là nó đã tạo Duyên cho bạn tiếp tục tác Nghiệp,nghĩa là bạn có quyền đánh tiếp cơ thứ hai.Nếu như nó không xuống lỗ là nó tạo Duyên cho đối thủ của bạn tác Nghiệp.Nếu hai bạn đều chơi fair(chơi đẹp)thì Nghiệp quả(hay Nghiệp báo)là Thiện Nghiệp,có nghĩa là người thắng sẽ rủ người thua cùng uống bia.Còn nếu như một trong hai bạn chơi ăn gian thì Nghiệp quả sẽ là Ác Nghiệp vì sẽ quánh nhau và cả hai thế nào cũng sức đầu mẻ trán,hehe.

Thập Nhị Nhân Duyên là mười hai động lực tương tác nhau,ràng buộc nhau,qui định nhau và tạo điều kiện cho nhau sinh khởi(Duyên Khởi).Chuỗi tương tác này tạo nên một chuyển động có chu kỳ,nên đó là một chuyển động tròn chứ không phải là một chuyển động thẳng.Thế nên nhà Phật mới ví nó như một chiếc bánh xe,và vì tính chu kỳ của nó nen mới gọi đó là bánh xe Luân Hồi.Mười Hai Nhân Duyên nương tựa nhau sinh khởi dưới sự ràng buộc chặc chẽ của bốn nguyên tắc sau :
1.Cái này có thì cái kia có.
2.Cái này sinh thì cái kia sinh.
3.Cái này không có thì cái kia không có.
4.Cái này diệt thì cái kia diệt.

Bốn nguyên tắc trên cũng chi phối toàn bộ cuộc sống của chúng ta đấy thôi.Ta có thể thấy nguyên tắc thứ 1 trong câu"Không có lửa làm sao có khói"(trừ lửa tình,không hề thấy chút khói nào dù nó vẫn cháy rần rật,hehehe.).nguyên tắc thứ 2 trong bài hát Như Cánh Vạc Bay của Trịnh Công Sơn :"Tóc em từng sợi nhỏ,rới xuống đời làm sóng lênh đênh."(May mà tóc em sợi nhỏ đấy,chứ tóc em mà sợi to như cọng bún chắc sóng dập tan nát đời anh Trịnh luôn,hehehe).Nguyên tắc thứ 3 trong câu :"Ngọc bất trác bất thành khí.Nhân bất học bất tri lý."(Nhưng thời buổi này người ta nuôi cấy trai lấy ngọc mà khỏi mài dũa chi hết.Nhiều người ít học nhưng chức to vẫn hét ra lý đấy thôi,hehe).Nguyên tắc thứ 4 trong câu :"Một câu nhịn chín câu lành."Có thể hiểu như"Không sinh sự thì sự không sinh"."(Khoản này được đấy,bỏ một lời chín,dù chưa đủ chục nhưng cũng có thể xem là lời to rồi,hehe.).

Theo Phật học,Mười Hai Nhân Duyên sinh khởi theo trình tự sau :

1.VÔ MINH :

Nếu là Phật Tử,bạn vẫn hiểu Vô Minh như là sự u tối của Tâm năng tri khiến phát sinh ái dục phiền não,là nguồn gốc của Khổ,là chướng ngạị của Trí Huệ.Chấm dứt Vô Minh là chấm dứt sinh tử luân hồi,là giải thoát.
Nhưng ở đây tôi muốn bàn về Vô Minh dưới một góc nhìn khác,xemVô Minh chỉ là một động lưc thuần túy,chưa được phán xét theo quan điểm của luân lý đạo đức qui phạm.Vô Minh mang trong nó hạt nhân của một động lưc dưới hình thái khác,tựa như con nhộng ủ con bướm trong kén của nó.Khi con bướm lột kén bay ra thì nó là :

2.HÀNH :

Là con bướm bay ra từ chiếc kén Vô Minh,nhung"con nhà tông không giống lông cũng giống cánh.Cánh bướm chập chờn chính là vũ điệu của Vô Minh,khiến cho con bướm phải bay đi tìm hoa hút mật.Điều đó có nghĩa rằng Hành là hóa thân của Vô Minh,là động lực của ý muốn tạo Nghiệp.Hành là Nghiệp lực.Nhưng nghiệp lực đó không phải là mù quáng,vì cánh bướm đã đưa con bướm tìm đến những bông hoa đầy mật ngọt.Thế là Vô Minh đã duyên với Hành mà sinh ra :

3.THỨC :

Thức là cái biết.Trong cái thân Tứ Đại của ta cũng có cái biết,là Uẩn thứ 5 của Ngũ Uẩn (đã bàn ở bài A Na Luật Đà ).Nhưng cái biết cũng hiện hữu khắp nơi như Thầy Nhất Hạnh nói :"Trong gió cũng có cái biết."Loài ong loài kiến biết tổ chức xã hội phân công chặc chẽ.Chim thiên di biết định vị không cần la bàn.Loài dơi biết xử dụng ra đa để bắt mồi.Loài chình điện biết xử dụng súng điện để tự vệ.Các loài hoa biết tạo cho mình những cấu trúc hình học đa dạng và chuẩn xác,v...v...Và con bướm đã biết tìm đến với hoa,thế là Hành đã duyên với Thức để sinh ra :

4.DANH SẮC :

Danh sắc chính là Ngũ Uẩn.Sắc là Uẩn thứ nhất,và Danh là 4 Uẩn còn lại,trong đo có Thức Uẩn.Ta hãy đọc lại đoạn Kinh(trong Kinh Đại Duyên Phương Tiện) mà Đức Phật giảng cho Ngài A Nan thế nào là mối quan hệ hữu cơ (quan hệ hữu cơ là một khái niệm triết học mô tả mối quan hệ hai chiều không thể tách rời ) giữa Thức và Danh Sắc :

"Này A Nan,nhờ duyên vào Thức mới có Danh Sắc,như vậy là có ý nghĩa gì ? Nếu Thức không vào bào thai mẹ thì có Danh Sắc không ?

A Nan thưa :Bạch Thế Tôn,Không.

Nếu khi Thức đã vào rồi mà không sanh ra thì có Danh Sắc không ?

Bạch Thế Tôn,không.

Nếu Thức ra khỏi bào thai mà em bé bị tử vong thì Thức ấy có tăng trưởng không ?

Bạch Thế Tôn,không.

Này A Nan,như vậy nếu không có Thưc thì có Danh Sắc không ?

Bạch Thế Tôn,không.

Này A Nan,ta vì lý do này nên biết Da nh Sắc là do Thức,cho nên mới nói duyên với Thức mà có Danh Sắc.Đây chính là vấn đề mà ta muốn nói.

Này A Nan,do duyên Danh sắc mà có Thức là như thế nào ?Nếu Thức không tồn tại trong Danh Sắc thì Thức không có chỗ trú.Nếu Thức không có chỗ trú thì há có thể có sanh già bệnh chết sầu bi khổ não chăng ?

Bạch Thế Tôn,không.

Này A Nan,như vậy nếu không có Danh Sắc há có thể có Thức chăng ?

Bạch Thế Tôn,không.

Ta vì lý do này mà biết được Thức do Danh sắc mà có,vì vậy nên nói duyên Danh Sắc mà có Thức.Đây chính là vấn đề mà ta muốn nói."

Do Thức mà có Danh Sắc cũng như do Danh Sắc mà có Thức, nghĩa là Thức duyên Danh sắc (hoặc Danh Sắc duyên Thức ) sinh ra :

5.LỤC NHẬP :

Là sáu quan năng nhận thức : mắt tai mũi lưỡi thân ý để phản ánh sáu đối tượng tương ứng là hình thể âm thanh mùi vị trạng thái vật chất và những khái niệm.Vì có Danh Sắc mà có Lục nhập ( hoặc do Lục Nhập mà có Danh Sắc ,cũng giống như vì có nhộng nên có bướn và do bướm mà có nhộng.Triết học Phật Giáo là triết học Nhân Quả tương duyên tương sinh,tương tức tương nhập.Ta hãy nhớ đây là tư tưởng cốt lõi xuyên suốt cả bề dày của nền triết học Phật Giáo ),vì thế Danh Sắc duyên Lục Nhập sinh ra :

6.XÚC :

Là cảm giác,như đã bàn ở phần Ngũ Uẩn.Danh Sắc duyên Xúc sinh ra :

7.THỌ :

Là tri giác,như đã bàn ở phần Ngũ Uẩn.Xúc duyên Thọ sinh ra :

8.ÁI :

Đúc Phật dạy :"Ái là Tập Đế".Tập Đế la Chân Lý thứ 2 trong Tứ Diệu Đé,là Chân Lý về cội nguồn của cái khổ do 3 thứ ái  là ái dục,ái hữu và ái diệt (đả bàn ở mục "tư niệm thực" ).Thọ duyên Ái sinh ra :

9.THỦ :

Là giữ lấy.Ngôn ngữ Phật Giáo hay gọi là"chấp thủ"hoặc "chấp trước".Thường người ta say mê một cái gì đó thì người ta phải đeo đuổi nó,trói buộc vào nó và tập thành một thói quen cho cả thân tâm mà người ta chỉ ý thức được phần nhỏ,còn đa phần thì chìm sâu vào tiềm thưc (đây là tập khí sẽ tạo ra nghiệp chướng.Ta sẽ bàn nhiều ở bài khác nói về tác dụng của tu Thiền đối với các loại bệnh tâm thần ).Có thể khái quát Thủ thành 4 loại : 1. Dục thủ (quen với những lạc thú thông thường như tứ khoái ăn ngủ....).2.Kiến thủ (say mê những ý tưởng,kiến thức,lý tưởng,niềm tin đến nỗi kiên quyết bảo vệ nó chống lại tất cả những gì trái nghịch với nó,vì vậy Einstein mới nói :"Đập vỡ một hạt nhân nguyên tử dễ hơn phá bỏ một định kiến." .3.Giới cấm thủ (những định kiến về qui tắc,luật lệ ).4. Ngã luận thủ (còn gọi là ngã chấp,tin tưởng và bênh vực cho cái "tôi"của mình).
Ái duyên Thủ sinh ra :

10.HỮU :

Là có,là sở hữu và cũng là hiện hữu.Đây là một tổng thể của Ái,của Thủ.Từ say mê đến giữ chặc sẽ biến nó  thành một hiện thể với dầy đủ tính chất riêng của nó như là một nghiệp báo của Hành,của nghiệp lực.Thế nên Thủ duyên Hữu tạo ra :

11.SANH ::

Là xuất hiện dưới một hình hài mới như con bướm bay ra từ kén nhộng.Nhộng là bướm chưa thành.Sâu là nhộng chưa thành.Trứng là sâu chưa thành.Giữa trứng bướm và bướm có một mối quan hệ hữu cơ nhất định,chưa kể đến những mối quan hệ hữu cơ xa hơn với bướm như hoa,lá,nắng mưa,như đất với các quần thể vi sinh vật...v...v...Không có một sự sanh ra từ một cái gì trống rỗng hoặc đơn lẽ.Có thể nói Sanh là nghiệp báo của bao nhiêu là nghiệp lực.Vì thế nên Hữu duyên Sanh mà có :

12.LÃO TỬ :

Là già rồi chết như là hậu quả tất nhiên của Sanh.Đây là giai đoạn chót của tiến trình mười hai nhân duyên,nhưng không có nghĩa là kết thúc,vì bánh xe Luân Hồi vẫn tiếp tục quay như là một động cơ vĩnh cửu.

Đối với Phật Tử theo nhiều truyền thống Phật Giáo thì Mười Hai Nhân Duyên được hiểu và tin tưởng như là qui luật của một tiến trình mà trong đó cá thể phải trầm luân qua nhiều kiếp đầu thai dưới nhiều hình thái của các loài sinh vật khác nhau do tác nghiệp của mình trong một thế giới vô minh được xem là bể khổ.Muốn thoát ly ra khỏi bể khổ đó thì phải quay ngược bánh xe theo nguyên tắc cái này diệt thì cái kia diệt để cuối cùng chấm dứt Vô Mình và sẽ được giải thoát ra khỏi vòng quay sinh tử luân hồi.Muốn quay ngược bánh xe thì phải tu nhân tích đức(tạo Thiện Nghiệp)qua nhiều đời hoặc phải xuất gia cầu Đạo.

Tất cả mọi truyền thống Tôn Giáo đều tốt đẹp vì nhờ đó mà nhân loại mới có một bề dày văn hóa đa dạng và một nền văn minh rực rỡ như ngày nay.Tôn Giáo nào cũng nhằm mục đích giãi quyết hạnh phúc cho con người từ bình diện cá nhân đến xã hội.Khi nào còn con người,còn xã hội là vẵn còn khát khao hạnh phúc và tôn giáo vẫn còn là một chiếc phao cứu sinh bập bênh trên biển giữa những loại phao cứu sinh khác.Điều đó nói lên nỗi thống khổ của con người cũng mênh mông như biển cả,dù có bốc hơi đến bao nhiêu đòi thì cũng sẽ chẳng bao giờ là biển cạn.Thế thì chuyện cứu khổ cứu nạn có phải là chuyện rõ"lo bò trắng răng "không ? Hehehehe.

Chiến tranh,đói kém,bệnh tật ,dốt nát được xem như 4 kẻ thù chính của hạnh phúc nhân loại.Nhưng người ta tiếp tục gây chiến tranh vì lý tưởng hòa bình.Người ta tiếp tục gây đói kém vì phát triển kinh tế.Người ta tiếp tục nuôi dưỡng bệnh tật vì bảo vệ sức khỏe.Người ta tiếp tục duy trì dốt nát bằng tìm kiếm tri thức.Ta có thể tự hỏi tại sao 4 nguyên tắc chi phối quá trình duyên khởi không còn đúng ở đây.Đáng lẽ lý tưởng hòa bình phải sinh ra hòa bình,phát triển kinh tế phải sinh ra thịnh vượng.Nhưng thực tế luôn ngược lại ! Vì sao ?

Để trả lời câu hỏi này chúng ta hãy quay trở lại với nhộng và bướm.Khi con bướm bay ra từ cái kén nhộng thì con nhộng không còn nữa.Khi một trái cây chín mọng lìa cành hiến mình cho đất thì một chồi cây non mới vươn mình thức dậy.Nhân quả là một quá trình duyên khởi (cái này sinh thì cái kia sinh,cái này diệt thì cá kia diệt),nhưng bản chất là tương nhập (trong nhân có quả,trong quả có nhân ).Vì thế nên trong tiến trình duyên khởi,mọi hình thái khác nhau mà ta phân biệt trong nhận thức chỉ là những hình thức hoán chuyển của cùng một bản chất.Điều đó có nghĩa là 4 nguyên tắc vẫn đúng ở đây, chỉ có chúng ta sai lầm vì phân biệt hai mặt đối lập của cùng một bản chất.Thế thì bản chất đó là gì ? Ta hãy cùng giở Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh :

"Xá Lợi Tử !
Thị chư Pháp KHÔNG TƯỚNG.
Bất sinh.Bất diệt.
Bất cấu.Bất tịnh.
Bất tăng.Bất giảm."

Tạm dịch :"Hỡi người con dòng Xá Lợi.Hãy nhìn thấy mọi Pháp là không có hình tướng..Không sanh,không diệt.Không dơ không sạch.Không tăng không giảm."

Ở đây ta cần bàn thêm về từ PHÁP.Từ Pháp trong triết học Phật Giáo là một khái niệm vô cùng rộng về sự vật.Nó không chỉ riêng những sự vật bị qui định,có điều kiện mà còn chỉ tất cả những sự vật vượt ra ngoài giới hạn đó.Trong Kinh Pháp Cú chương 20 có 3 câu thơ quan trọng sau đây :

1.Mọi sự vật bị giới hạn đều là VÔ THƯỜNG.
2.Mọi sự vật bị giới hạn đều là KHỔ.
3.Mọi Pháp đều là VÔ NGÃ.

Ta hãy để ý ở 2 câu đầu dùng từ"sự vật"để chỉ ra những cái bị qui định,bị giới hạn trong những điều kiện ràng buộc nhau như Ngũ uẩn,như lục căn lục cảnh.Nhưng trong câu thứ 3 lại dùng từ Pháp là khái niệm chỉ ra rằng tất cả những sự vật có điều kiện và bị giớ hạn dều mang theo trong nó tính không điều kiện và vô hạn,tựa như những con sóng biển luôn mang theo trong nó nước của đại dương.

Thế là đã rõ tại sao nhìn thấy mọi Pháp là không hình tướng..Tất cả những gì gọi là hình tướng đều là những giới hạn,những qui định,những ảo tưởng của nhận thức mà do Ái Thủ Hữu nên ta không giác ngộ được TÁNH KHÔNG của vạn Pháp.Nếu ngộ được Tánh Không của vạn Pháp thì rõ ràng sống chết chỉ là một,sạch dơ là vô nghĩa,và biến dịch chỉ là vận động bảo toàn.

Bản tính con người là tham sống sợ chết,trọng sạch khinh dơ,ham nhiều chê ít.Con người tranh thủ hạnh phúc cho mình bằng cách đeo đuổi xu hướng một chiều do nhận thức phân biệt của mình nên vì thế mà cứ trầm luân trong bể khổ.Ta hãy cùng giở Kinh Pháp cú ở chương đầu :

"Ngươi là kết quả của tất cả những gì ngươi suy nghĩ.Kết quả ấy dựa trên nền tảng của tư tưởng ngươi và xây dựng nên tư tưởng ngươi.

Nếu hành động và lời nói của một người xuất phát từ những ý nghĩ ác,đau khổ sẽ bám theo hắn như chiếc bánh xe bò lăn theo dấu chân bò.

Ngươi là kết quả của tất cả những gì ngươi suy nghĩ.Kết quả ấy dựa trên nền tảng của tư tưởng ngươi và xây dựng nên tư tưởng ngươi.

Nếu lời nói và hành động của một người xuất phát từ những ý nghĩ trong sạch,hạnh phúc sẽ theo hắn như bóng với hình."

Tưởng cần phải chú thích một chút về chữ "ác"và "trong sạch".Theo Bát Chánh Đạo thì "ác"là bất thiện,là không phù hợp Chân Lý."Trong sạch"là Chánh Kiến Chánh Tư Duy Chánh Niệm.

Thế là đã rõ,chỉ có giác ngộ được TÁNH KHÔNG thì mới mong "Viễn ly điên đảo mộng tưởng,cứu cánh Niết Bàn" (Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh ).

Hãy"nhìn một lần cho rõ mặt oan khiên".Hãy nhìn vào chính bản tâm của mình để rồi bỗng thấy một biển trời phong ba lồng lộng,đến nỗi phải cầu cứu Tổ Sư Bồ Đề :

"Bạch Thầy,Tãm con bất an,cầu xin Thầy an giúp."

Tổ Sư đáp :

"Đem Tâm ngươi ra đây ta an cho."

"Bạch Thầy,con đã tìm Tâm mà chẳng thấy !"

Tổ Sư nói :

"Đấy,ta đã an cho ngươi rồi đấy."

Ước gì có một đỉnh núi (không có Everest thì Lang Bian cũng tạm tạm,hehe) để chúng ta trèo lên mà cùng nhau :

"Nhất khiếu trường không hàn Thái Hư"
(Hú một hơi dài làm lạnh cả Hư Không.)

                    DALAT 24-05-09

                             -000-


                             VỀ QUÊ

Ta về trên đỉnh mây cao
Tìm trong trời rộng nẻo vào cô đơn
Giã từ em
Những lối mòn
Vườn xưa phố cũ hãy còn nắng mưa.

Ta về lại chốn xa xưa
Thủa quanh năm chỉ một mùa khói sương
Ta về đây
Giữa đêm trường
Nhặt cành hoa trắng bên đường Vô Biên.

                      VÕ CHÍ HIỀN.     DALAT -1998-

                                    -000-

A NA LUẬT ĐÀ




Đại Đức A Na luật Đà là một Hiền Sĩ cùng thời với Đức Phật ,cư trú trong một tịnh cốc gần thành phố Tỳ Xá Lỵ,không xa nơi Đức Phật đang ở là tu viện Trùng Các trong rừng Đại Lâm.

Tôi tóm lược câu chuyện sau đây từ Kinh Samyutta Nikaya.22.6,bản dịch của Thầy Thích Nhất Hạnh.

Đại Đức A Na Luật Đà thường được nghe Đức Phật Thích Ca thuyết giảng Chân Lý ,và nổi tiếng là một Hiền Sĩ rất am tường những  Chân lý ấy.Thế nên một hôm có một số tu sĩ Bà La Môn tìm đến ông để chất vấn như sau :

"Đức Như Lai đã giải quyết thế nào về nội dung của bốn mệnh đề sau đây :
1.Sau khi chết,Đúc Như Lai vẫn còn.
2.Sau khi chết,Đức Như Lai không còn.
3.Sau khi chết,Đức Như Lai vừa còn vừa không còn.
4.Sau khi chết,Đức Như Lai vừa không còn,vừa không không còn."

Đại Đức A Na Luật Đà chưa bao giờ nghe Phật giảng về những nội dung đó nên ông phải tìm tới Đức Phật để xin được chỉ giáo.Đức Phật hỏi  :

"Này Đại Đức A Na Luật Đà,thầy nghĩ sao,có thể tìm thấy Như Lai nơi Sắc uẩn không ?"

A Na Luật Đà đáp :"Bạch Thế Tôn,không."

"Có thể tìm Như Lai ngoài Sắc uẩn không ?"

"Bạch Thế Tôn,không."

"Có thể tìm  thây Như Lai trong các uẩn Thọ Tưởng Hành Thức không ?"

"Bạch Thế Tôn,không."

"Có thể tìm thấy Như Lai ngoài các uẩn Thọ Tưởng Hành Thức không ?"

"Bạch Thế Tôn,không."

"Này Đại Đức A Na Luật Đà,thầy có nghĩ rằng Như Lai là một cái gì vượt ra khỏi ngụ uẩn Sắc Thọ Tưởng Hành Thức không ?"

"Bạch Thế Tôn,không."

"Này,A Na Luật Đà,đi tìm Như Lai ngay trong khi Như Lai đang sống mà còn không tìm ra thì thử hỏi đi tìm Như Lai sau khi chết trong khuôn khổ bốn mệnh đề còn,không còn,vừa còn vừa không còn,vừa không còn vừa không không còn,đó có phải là một chuyện có thể làm được hay không ?"

"Bạch Thế Tôn,không."

"Tốt lắm,thầy A Na Luật Đà ! Từ trước đến nay,Như Lai chỉ giảng dạy về KHỔ và con đường DIỆT KHỔ."

                                -000-

Bạn không phải là Như Lai,nhưng theo lời dạy của Ngài,bạn cũng có thể tự hỏi mình;"Tôi là ai ,có thể tìm thấy tôi qua Sắc uẩn không ?"(Uẩn là một tổ hợp,Sắc là thế giới vật chất được nhận thức bằng ngũ quan : mắt,tai,mũi,lưỡi,thân,với 5 đối tượng tương ứng là : hình dạng,âm thanh,mùi ,vị,nhiệt độ và trạng thái.Đây là những yếu tố chủ quan trong nhận thức vật chất giới,còn yếu tố khách quan của vật chất giới là Tứ Đại : Đất,Nước,Gió,Lửa, là 4 yếu tố cấu thành).Nếu tôi  là một thân xác thì thân tôi đây chỉ là một tổ hợp của đất khi bồi khi lở,của nước lúc đầy lúc vơi,của gió lúc khoan lúc nhặt,của lửa khi cháy khi tàn..,Tứ Đại không ngừng thay đổi tùy thuộc tác động của những nhân tố cũng thay đổi không ngừng,cho nên có thể nói Tứ Đại vô thường bởi trùng trùng duyên khởi.Hơn nữa,nhận thức của cái thân Tứ Đại ấy là những cảm nhận đầy khuyết tật của ngũ quan(như 4 anh mù sờ voi,hehe).Thế thì thân xác này tuy có đó mà dường như không có đó( Tiền như không mà có,tiền mà có cũng như không,hehe),thế nên mới có câu Kinh Bát Nhã :"Sắc tức thị Không".

Bây giờ bạn có thể kết luận :"Không thể tìm thấy tôi qua Sắc uẩn,vì Sắc tức thị Không."(Nhưng bạn nào hay trốn vợ đi chơi thì hãy coi chừng,đừng tưởng thân này đang tàng hình thì vợ không tìm ra đâu nhé,hehehe).

Rồi bạn lại tự hỏi tiếp :"Tôi là ai,có thể tìm thấy tôi ngoài Sắc uẩn không ?"
Bạn không chỉ là một thân xác,bạn còn là một tinh thần.Tinh thần bạn là những suy nghĩ,những tư tưởng,những khoái lạc,những khổ đau,những đam mê,những khát vọng,những hoài niệm,những ước mơ, tình yêu và thù hân,ích kỷ và vị tha...Tất cả những thứ thứ ấy là một bầy chim đang làm tổ nơi cái thân Tứ Đại của bạn.Đất lành chim đậu( nhưng đất dữ cũng chớ nhậu chim,vì nhà nước đang bảo vệ động vật hoang dã,nhậu chim là phạm pháp,tui kiu cảnh sát mối trường bắt nhốt à nhen,hehehe).Không có đất lành thì tìm chim ở đâu,thật là"tìm em như thể tìm chim..."

Và bạn có thể kết luận :"Không thể tìm thấy tôi ngoài Sắc uẩn".Mà Sắc tức thị Không,thế thì tôi khác nào gió  đông thổi vào nhà trống.(Bạn có thể hiểu rõ điều này nếu bạn đang nuôi dạy con cái,bạn giảng đạo đức cho chúng liên miên nhưng bạn cũng phải phát điên khi nhìn chúng hành xử,hehehe).

Xin bạn tiếp tục hỏi :"Tôi là ai,có thể tìm tôi nơi Thọ,Tưởng,Hành,Thức không ?"

Con người ta là một chỉnh thể thống nhất của thể xác và tinh thàn.Chỉnh thể đó được Đức Phật mô tả bằng khái niệm NGŨ UẨN.Ngũ uẩn là một tổ hợp thống nhất của 5 tổ hợp : Sắc,Thọ,Tưởng,Hành,Thức.Sắc uẩn đã nói rồi.Bây giờ đến Thọ uẩn.Thọ có nghĩa là nhận lãnh,ví dụ ai đó phạm pháp thì sẽ bị thọ án,bạn lên chùa ăn cơm trưa là bạn thọ trai(nhưng ở chốn ăn chơi người ta không gọi là thọ gái đâu nhé,hehe).Tổ hợp của Thọ bao gồm 6 quan năng : Mắt,tai mũi,lưỡi,thân,ý(nhãn,nhĩ,tỉ,thiệt,thân,ý,cần nói thêm về ý là một quan năng có cơ sở vật chất là những tế bào thần kinh họp lại thành bộ nhớ vi xử lý)tương ứng với 6 đối tương của nó là : hình dáng,âm thanh,mùi,vị,trạng thái và nhiệt độ của vật chất,biểu tượng và khái niệm(sắc,thanh,hương,vị,xúc,pháp).Sáu quan năng này khi hoạt động sẽ phát sinh cảm giác(những cảm giác về hình dáng,màu sắc,âm thanh,mùi vị...),đó là Thọ,cảm giác ở dạng thô.

Tiếp đến là Tưởng uẩn.Cũng như Thọ uẩn,cơ sở của tổ hợp này là 6 căn(nhãn nhĩ tỉ thiệt thân ý)và 6 cảnh(sắc thanh hương vị xúc pháp),chỉ khác ở chỗ là các cảm giác được định vị,được phân biệt rạch ròi và trở thành tri giác,đó là Tưởng.

Uẩn thứ tư là Hành uẩn.Đậy là một tổ hợp khá phức tạp với 52 tâm sở không thể kể hết ở đây,nhưng có thể khái quát  chúng thành 4 nhóm (theo Duy Thức Học,môn tâm lý học Phật giáo) :Tâm sở biến hành,tâm sở biệt cảnh,tâm sở bất thiện(như tham sân si),và tâm sở thiện(như không tham không sân không si).Những tâm sở này khi hoạt động sẽ hình thành động lực ý chí theo 2 xu hướng đối lập để tạo nghiệp.Đức Phật đã giảng rằng :"Hỡi các Tỳ Kheo,chính ý muốn ta gọi là nghiệp.".Thật vậy,khi ý muốn phát sinh thì nó thúc đẩy người ta thực hiện nó bằng thân khẩu ý.Như thế hành uẩn chính là những nguyên động lực tạo tác tạo nghiệp.

Cuối cùng là Thức uẩn.Thức nghĩa là biết(chắc vậy,vì ngủ thì đâu biết gì,hehehe),nhưng không phải là"giác"hay là"tri".Thức là cái biết ở mức độ khái quát cao,bao gồm cả 3 hoạt động phân tích, tổng hợp và loại suy.Tổ hợp của thức cũng giống như Thọ và Tưởng.Ta hãy nghe Đức Phật giảng về Thức như sau :"Thức được gọi tên tùy theo bất cứ điều kiện nào má từ đó nó phát khởi.Nhờ con mắt và hình dạng mà một thức được phát sinh,ta gọi nó là nhãn thức.Nhờ tai và âm thanh mà một thức được phát sinh,ta gọi đó nhĩ thức..Nhờ mũi và mùi mà một thức được phát sinh,ta gọi đó là tỉ thức.Nhờ lưỡi và vị mà một thức được phát sinh,ta gọi đó là thiệt thức.Nhờ thân thể và những sự vật có thể sờ mó được mà một thức được phát sinh,ta gọi đó là thân thức.Nhờ ý và những đối tương của tâm ý(biểu tượng và khái niệm)mà một thức được phát sinh,ta gọi đó là ý thức..."

Nhìn chung,Ngũ Uẩn giống như cái kiềng 3 chân,mất một chân thì 2 chân kia không thể đứng.Có một chân thì phải có hai chân còn lại mới thành kiềng 3 chân."Dù ai nói ngả nói nghiêng,lòng ta vẫn vững như kiềng 3 chân,hehehe."Thế nên vì Sắc uẩn là vô thường nên các uẩn còn lại cũng thế thôi.Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh dạy rằng :"...Sắc bất dị Không.Không bất dị Sắc.Sắc tức thị Không.Không tức thị sắc.Thọ Tưởng Hành Thức diệc phục như thị."(Sắc chẳng khác Không.Không chẳng khác Sắc.[nên hiểu khái niệm Không khác với khái niệm Vô Thường.Vô thường là biến dịch,còn Không là vượt ra ngoài tự tánh cô lập."Không"không phải là khái niệm đối lập với "có" mà là một khái niệm vượt ra ngoài mọi khái niệm.Có thể nói nôm na Sắc thấy vậy mà không phải vậy,và Không cũng thế.]Sắc chính là Không.Không chính là sắc.Thọ Tưởng Hành Thức cũng đều như thế cả.)

Bây giờ có thể kết luận được rồi :"Không thể tìm thấy tôi nơi Thọ Tưởng hành Thức."

Thế thì :"Tôi là ai,có thể tìm thấy tôi ngoài Thọ Tưởng Hành Thức không ?"

Hẩn là không,vì Thọ Tưởng Hành Thức cũng đều là đất lành cho chim đậu.Tôi như ngọn lửa cháy lên từ rừng cây ngũ uẩn.(ở Mỹ là họ kêu máy bay dập đó nhe,hehe)Trang Tử từng nói :"củi thì hết thanh này tới thanh khác,mà lửa thì vô cùng."

Thế thì" tôi là ai,có phải tôi là một cái gì vượt ra ngoài Ngũ Uẩn không ?"

Hẳn là không,vì không có Ngũ uẩn thì không có ý thức về cái tôi."Không có lửa thì làm sao có khói,hehe."

Thế thì tôi là ai ? Tôi đang sống đây mà chính tôi còn không tìm thấy tôi thì bạn có thể nào tìm thấy tôi chăng ?

Có thể bạn không tìm thấy tôi giữa rừng người phố chợ.Nhưng nếu bạn là cảnh sát giao thông mà tôi vượt đèn đỏ thì bạn sẽ tóm được tôi ngay,hehe.Hoặc giả bạn là chủ quán mà tôi ăn xong quên trả tiền thì bạn cũng tìm tới tôi liền,chớ quên rằng"Không tức thị Sắc."Hehehe.Và thế là"Tôi vui chơi giữa đời,ối a biết đâu nguồn cội.Tôi thu tôi bé lại,làm mưa tan giữa trời"(Trịnh Công Sơn-Biết Đâu Nguồn Cội)

Hạt mưa giữa trời vẫn còn to.Nếu tôi thu tôi bé lại thì sẽ bé cỡ hạt electron thôi,hehe.Electron là cư dân của thế giới nguyên tử,những viên gạch xây nên ngôi nhà vật chất mắt thấy tai nghe sờ nếm được.Nó hiện hữu rành rành ra đấy nhưng đố bạn tìm ra nó,hehe.Hãy nghe nhà vật lý học nguyên tử Julius Robert Oppenheimer,cha đẻ của trái bom nguyên tử đầu tiên mô tả nó ở trang 42 trong cuốn Science and the Common Understanding của ông :"If we ask,for instance,whether the position of the electron remains,we must say NO.If we ask whether the electron's position changes with time,we must say NO.If we ask whether the electron is at rest,we must say NO.If we ask whether it is in motion,we must say NO."(Giả dụ như ta hỏi vị trí của hạt điện tử có giữ nguyên một chỗ không,ta phải nói KHÔNG.Nếu ta hỏi vị trí của nó có biến thiên theo thời gian không,ta phải nói KHÔNG.Nếu ta hỏi nó có đang dừng lại không,ta phải nói KHÔNG.Nếu ta hỏi nó có đang chuyển động không,ta phải nói KHÔNG.)

Chẳng biết Oppenheimer có đọc kinh Nikaya không mà những tình huống hiện hữu của hạt điện tử ông nêu ra không khác gì về mặt ý nghĩa với những tình huống mà Đức Phật đã giảng cho ngài A Na Luâ5t Đà.Đến đây ta có thể nhận ra rằng bản chất của hiện hữu vượt ra ngoài những khái niệm mâu thuẫn đối lập.Để nhận diện một sự thật hiện hữu,ta không thể bảo nó có hay không,nó động hay tĩnh,nó mất hay còn.Mọi hiện hữu đều thấy vậy mà không phải vậy.Cọp dữ có thể ăn thịt người nhưng không bao giờ ăn thịt con.Một kẻ giàu tiên nhưng có thể nghèo tình hoặc ngược lại,hehehe.Giữa Sài Gòn huyên náo cũng có thể tìm ra một góc bình yên,hoặc giữa Dalat bình yên vẫn rộ lên những góc trời náo nhiệt.Dù náo nhiệt hay bình yên người ta đều phải đối mặt với cái khổ như đối mặt với từng bữa ăn hàng ngày,vì thế Đức Phật đã khẳng định rằng Ngài chỉ dạy về KHỔ và con đường DIỆT KHỔ.

Sau câu chuyện trên vẫn còn đọng lại câu hỏi "Tôi là ai"như một tiếng vọng giữa biển khơi thăm thẳm.Không ai có thể trả lời giùm bạn.Chính bạn phải tham gia Công Án này :"Hãy chỉ cho ta xem cái Bản lai Diện Mục(bộ mặt riêng có thể nhìn thấy được)của ngươi trước khi ngươi sinh ra đời."

                           -000-

BÁT CHÁNH ĐẠO







Hôm nay nhân ngày lễ Phật Đản bèn mạn phép đàm về Phật Pháp.

Phật Pháp thì vô biên,Kinh sách để lại ngót trên"tám vạn tư",bỏ cả đời người cũng không sao bàn cho hết ! Hơn nữa chỗ tinh thâm nhất của Phật Pháp lại là chỗ"không thể nghĩ bàn"(Bất khả tư nghì) ! Vậy thì tôi có thể nói gì bây giờ !

Nhớ lại trong truyện "Ỷ Thiên Đồ Long ký"của Kim Dung có nhà sư"Nói Không Được"(Bất Khả Thuyết),nhưng tôi không phải là nhà sư,vậy thì tôi cứ nói thoải mái phải không,hehehe.

Có thể bạn sẽ quở tôi không nghiêm trang khi bàn chuyện Phật Pháp,vì mọi người thường có thói quen đeo mặt nạ khi bàn chuyện nghiêm túc,nhưng ai biết dưới lớp mặt nạ đó họ khóc hay cười ! Bởi thế Đức Phật đã dạy về KHỔ ĐẾ như là chân lý căn bản để nhận thức bản chất cuộc sống.Con người ta thường chỉ nhìn thấy chiếc mặt nạ của kẻ khác cũng như kẻ khác nhìn thấy chiếc mặt nạ của mình,cuộc sống trở nên cứng nhắc và giả tạo,và thế là khổ !

Nhưng Đức Phật đã giải quyết vấn đề bằng Chân Lý thứ bốn,ĐẠO ĐẾ,là con đường đưa ta ra khỏi ngõ cụt của KHỔ(nên hiểu rộng hơn về Khổ,không phải chỉ là nhửng đau khổ của thể chất và tinh thần thuộc kinh nghiệm sống,mà là những ảo tưởng,những định kiến,những chiếc mặt nạ ma quái tự ta nhào nặn để đeo lên mặt mình và kẻ khác).Đạo Đế chính là BÁT CHÁNH ĐẠO,không phải là tám con đường riêng lẻ,nhưng là 8 thứ bảo bối trong gói hành trang để đi vào con đường giải thoát,đó là :

1.Chánh kiến( Nhìn thấy mọi thứ đúng theo chân lý)
2.Chánh tư duy(suy nghĩ mọi việc đúng theo chân lý).
3.Chánh ngữ(nói năng đúng theo chân lý).
4.Chánh nghiệp(hành động hợp với chân lý)
5.Chánh mạng(sống đúng với chân lý)
6.Chánh tinh tấn(nổ lực vì chân lý)
7.Chánh niệm(Ý thức bao quát tất cả trong chân lý).
8.Chánh định(Tập trung toàn bộ thể xác và tinh thần vào Chân lý).

Đức Phật đã dùng ngón tay chỉ mặt trăng và bảo chúng ta hăny nhìn trăng chứ đừng chằm hăm vào ngón tay của Ngài.Chao ôi,chị Hằng quả là tuyệt thế giai nhân,nhưng đường lên trăng sao mà diệu vợi !Giàu có hùng mạnh như nước Mỹ  mà cũng chỉ mới đưa được có mấy người lên trăng,cỡ chúng ta làm gì có cửa,hehe.Nhưng hồi xưa Đường Minh Hoàng du nguyệt điện mà đâu cần tới phi thuyền Apollo.Hãy cứ tin tưởng vào Đức Phật,Ngài đã chỉ ra 8 món bảo bối,cứ tập xử dụng cho tốt thì thế nào cũng có ngày đạt được thần thông lên trăng mà không cần thuê tàu của Mỹ,hehehe.

Nhưng biết tìm 8 món bảo bối ấy ở đâu bây giờ !Coi bộ còn gay go hơn cả đi tìm "lá diêu bông"chứ chẳng phải chơi ! Tôi chợt nhớ có một bài thơ của Tagore như thế này :

"Trong bóng tối rừng cây tôi chạy
Như xạ hưu tự say với hương mình.
Nhưng đêm nay đã là giữa mùa Xuân
Với ngọn gió từ phương nam thổi đến.

Tôi lạc lối giữa rừng đêm khập khễnh
Tôi tìm tôi,tìm ảo ảnh trong tay
Tôi tìm cái mình không thể có
Và có trong tay cái không thể kiếm tìm."

A ! Thế là đã rõ,tôi đang có trong tay cái không thể kiếm tìm,đó chính là 8 món bảo bối Đức Phật đã chỉ.Đó là cuộc sống hàng ngày của chúng ta : nói năng, suy nghĩ,làm việc,giao tiếp,v...v...Bao trùm toàn bộ cuộc sống thường ngày là chân lý,Chúng ta có"chạy trời cũng không khỏi nắng",hehe.Nhưng quý bà quý cô lại hay sợ nắng,cứ ra nắng là phải bôi kem chống nắng !Còn quý ông đang ở ngoài nắng thì chỉ thích vô mát ngồi uống bia thôi,hehe.Thế mới biết chân lý ở ngay bên cạnh mà chả ai thèm quan tâm đến,thật phí phạm cho :

"Những ngày xuân trong ánh nắng tươi màu
Hương ngào ngạt bên sắc hoa nở thắm.
Trên lối nhỏ xuyên qua rừng xanh thẳm
Người đến bên tôi trong nắng sáng lung linh."
                             Tagore-Tâm Tình Hiến Dâng.

Nhân ngày Phật Đản mạn phép nói chuyện Phật Pháp bằng lời lẽ thiệt thà,dám mong Phật tử gần xa niệm tình mà từ bi hỉ xả.

        Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

                                  -000-

BÁT CHÁNH ĐẠO TRONG ĐỜI SỐNG HÀNG NGÀY CỦA TÔI

1.CHÁNH KIẾN.

Mỗi lần nghe ai phát biều chuyện gì đó,tôi không bao giờ để mình bị cuốn theo cơn lốc phê phán của người ta,giống như khi nghe tin tức và bình luận trên đài,tôi chỉ ghi nhận thông tin mà không xử lý,không phê phán.Nếu cần phải có một nhận định,tôi đặt những vấn đề riêng lẻ vào trong một toàn cảnh rồi để cho trực giác làm việc.

2.CHÁNH TƯDUY

Suy nghĩ đúng chân lý là một kiểu suy nghĩ mang nội dung không suy nghĩ.Suy nghĩ bất cứ điều gì cũng phải xuất phát từ một quan điểm nào đó,kể cả suy nghĩ về chân lý,mà có quan điểm là sẽ có định kiến,mà có định kiến thì không thể nào phù hợp với chân lý.Con người là một cây sậy biết suy nghĩ,không thể bắt nó không được suy nghĩ,nhưng cũng đừng để nó chỉ suy nghĩ theo kiểu cây sậy,mà hãy để nó suy nghĩ theo kiểu của người xử dụng cây sậy.

3.CHÁNH NGỮ

Mỗi lời nói tựa như một viên đạn bắn ra khỏi nòng súng,nó có thể gây sát thương cho kẻ khác hoặc gây ra những phá hủy không đáng có.Ông bà xưa dạy"Hãy uốn lưỡi 7 lần trước khi nói".Nếu áp dụng ở thời buổi này chắc cần phải tới 7 ngàn lần,vì thời buổi tin học,tốc độ vi xử lý khiếp lắm,hehe.Thế thì để bảo vệ người chung quanh bạn nên xài đạn giả,hehe.Nếu không có đạn giả thì bạn bắn lên trời thôi,khỏi sợ trúng ai,hehehe.
Lời nói xuất phát từ trái tim.Nếu tâm chưa đủ từ bi hỉ xả thì hãy cẩn thận lời nói để khỏi làm tổn thương người khác.Người Nhật có câu"Nói dối là mang tội,nhưng nói thật tất tần tật thì tội còn lớn hơn"(chánh ngữ mà thiếu chánh kiến chánh tư duy thì hậu quả khó lường).

4.CHÁNH NGHIỆP

Lời nói thì chỉ như viên đạn,nhưng  việc làm thì như bom nguyên tử ! Nổ một trái bom nguyên tử thì cả trăm năm sau vẫn không khắc phục được hết mọi hậu quả.Nghiệp tạo duyên,mà duyên nghiệp thì trùng trùng,làm đúng hóa sai làm sai hóa đúng(quan niệm Đại Thừa"Sát nhất miêu cứu vạn thử"),rất khó xác định phương hướng.Trong Phật Pháp có Pháp hữu vi và Pháp vô vi,Chánh nghiệp thuộc Pháp vô vi.Muốn thực hiện Chánh nghiệp phải luôn sống trong Chánh niêm.Nhưng thực hành đơn giản nhất là hễ thấy điều gì mang lại lợi lạc cho người khác,cho xã hội thì cứ làm nếu động lục xuất phát từ chính trong tim.

5.CHÁNH MẠNG

Chúng ta thường cho rằng muốn có cuộc sống đúng theo chân lý thì phải chọn một nghề lương thiện.Những nghề như trộm cướp,đồ tể,mãi dâm,gian thương v...v...bị cho là đọa lạc.Nhưng hãy xét kỹ lại mình xem,những người tự cho là làm nghề chân chính há chẳng từng trộm cướp,gian lận,mãi dâm,đồ tể ngay trong lãnh vực nghề nghiệp của mình đó sao ?Đồ tể biết buông dao thì cũng thành Phật,vậy hãy buông dao ngay trong lãnh vực nghề nghiệp và cuộc sống hàng ngày của chính mình.

6.CHÁNH TINH TẤN

Chữ tinh tấn gợi cho ta cảm giác hăng say của sư nổ lực làm việc vì mục đích cao đẹp.Tinh tấn là nội dung của tính cần mẫn siêng năng.Người ta chỉ siêng năng làm những gì người ta thật sự yêu thích,bằng ngược lại thì siêng năng là một gánh nặng khó mang.Để sẵn sàng nổ lực vì chân lý thì phải có một tình yêu chân lý mãnh liệt,một nhu cầu tự thân.Nhưng dù sao thì việc tập thành một thói quen tinh tấn cũng rất cần thiết.Giữ thói quen đừng để bị lôi cuốn vào chuyện thị phi.Giữ thói quen thận trọng trong suy nghĩ,nói năng hành động và lấy đó làm phương tiện để phát huy tâm từ bi hỉ xả ra ngoài đời.Giữ thói quen luôn biết phản tỉnh trong nghề nghiệp để đừng bao giờ lượm lại con dao của đồ tể đã bỏ mà xài.Giữ thói quen sống trong chánh niệm,luôn chú tãm vào hơi thờ bất kỳ lúc nào có thể chú tâm được.Giữ thói quen luyện tập Thiền định hàng ngày.

7.CHÁNH NIỆM

Chánh niệm là bảo bối của những bảo bối.Chánh niệm là hơi thở xuyên suốt Bát Chánh Đạo,không có Chánh niệm thì không có Bát Chánh Đạo.Chánh niệm chính là tự thân chân lý thể hiện qua cửa ngõ của ý thức nhưng không phải là ý thức,vì thế nội dung của Chánh niệm là Vô niệm.Để thực hành Chánh niệm thì nên chú tâm vào hơi thở,mọi tạp niệm sẽ lộ diện chân tướng của nó là Không tướng và Chánh niệm cũng sẽ hiển lộ chân tánh của nó là Không tánh.

8.CHÁNH ĐỊNH

Chánh định là con tàu đưa ta bay vào không gian Chánh niệm.Không xử dụng Chánh định thì sẽ xa rời Chánh niệm.Thực tập Thiền định hàng ngày sẽ phát triển và nâng cao khả năng của định lưc.Với định lưc tốt thì Chánh định sẽ đươc thực hiện trong từng hành vi :đi đứng nằm ngồi ăn uống ngủ nghỉ.(Hãy nhớ lại chuyện một tu sĩ Bà La Môn hỏi Đức Phật : Ngài có gì khác vời ngườ thường ? Đức Phật trả lời :"Ta cũng như người thường,cũng đi đứng nằm ngồi ăn uống ngủ nghỉ.Nhưng ta khác người thường ở chỗ khi ta đi ta BIẾT ta đi,khi ta đứng ta BIẾT ta đứng....)

Bát Chánh Đạo là ngón tay của Đức Phật dùng để chỉ mặt trăng,mà mỗi người chúng ta đều có ngón tay giống như Đức Phật.Chỉ khác ở chỗ chúng ta vẫn còn ngắm trăng,có nghĩa là trăng còn ở rất xa.Khi không còn thấy trăng nữa thì sẽ xảy ra một trong hai khả năng : 1.Đã giác ngộ.2.Mệt mỏi và buồn ngủ nên đă nhắm mắt vô giường.Hehehehe.

                               -000-

khí





Khái niệm KHÍ trong triết học và y lý đông phương có mặt trong rất nhiều sách vở tài liệu,các bạn có thể tham khảo để có kiến thức sâu rông về lãnh vực này.Riêng tôi chỉ có thể nói vắn tắt đôi điều theo hiểu biết của mình.

Trước hết,KHÍ không phải là không khí,không phải là năng lượng,không phải là một dạng vật chất cụ thể có thể phân tích và đo đạc.Có thể hiểu KHÍ như một "trường" ( theo nghĩa vật lý học),một dạng "siêu dây" (Superstring Theory,một lý thuyết vật lý học hiện đại lý giải những hiệu ứng ở cấp vũ trụ trong không gian đa chiều :"Multi-Dimensional Space",ít nhất là 10 chiều). KHÍ vô hình vô ảnh.KHÍ có mặt ở khắp nơi trong vũ trụ và cùng biến dịch với mọi biến dịch.

Để có một khái niệm tương đối rõ ràng hơn về KHÍ,ta hãy thử làm một so sánh KHÍ trong lý học phương đông với TRƯỜNG trong vật lý học phương tây,dù hai lãnh vực này hoàn toàn khác nhau và không có tiếng nói chung,nhưng trong phạm vi ngôn ngữ thông thường được bao bọc bởi óc tưởng tượng khái quát,tôi nghĩ ta có thể ngộ ra lẽ tương đồng ở một số mặt nào đó.

TRƯỜNG trong vật lý học có nhiều dạng,ở đây ta thử dùng khái niệm"trường điện từ"(Electromagnetic Field ) để so sánh vì ta đang sống trong thế giới của trường này với phố xá sáng choang ánh điện,với máy vi tính,điện thoại di động,TV...là những biểu hiện rõ nét của lực điện từ.Nhưng những hoạt động bình thường khác như khi ta ngắm nhìn thiên nhiên tươi đẹp mà không ngạc nhiên vì sao ta có thể nhìn thấy những khung cảnh tuyệt vời ấy.khi ta đặt một bình hoa trên bàn mà không ngạc nhiên vì sao nó không bị lực hút của trái đất lôi nó xuyên thủng mặt bàn...tất cả đều do bản chất điện từ mà ra.Lực điện từ có thiên hình vạn trạng như một đóa sen ngàn cánh nở ra giữa thế giới của chúng ta.

Trong vật lý học,"trường điện từ" được mô tả như là một "trường vật lý của các điện tích chuyển động và thực hiện sự tương tác của chúng".Ở đây ta gặp khó khăn với "điện tích",vì muốn hiểu "điện từ trường" ta cần phải hiểu "điện tích" là gì.Vậy lý học mô tả "điện tích"như là tính chất của một số hạt cơ bản ( Particle : hạt nhỏ dưới mức nguyên tử như electron,proton,neutron...)
thể hiện ở chỗ các hạt đó luôn gắn liền với trường điện từ và chịu những tác động nhất định của trường điện từ".

Than ôi ! Tình trạng này khác nào"Không đi thì nhớ thì thương.Đi ra mắc phải cái mương cái cầu !Không đi thì nhớ thì rầu.Đi ra mắc phải cái cầu cái mương !"

Tình huống này làm tôi nhớ đến câu chuyện Thiện Tài Đồng Tử trong kinh Hoa Nghiêm.Thiện Tài  thấy viên minh châu trong bảo tháp.Đi vào bảo tháp để tìm viên minh châu lại thấy bảo tháp trong viên minh châu.Thế là"trong châu có tháp,trong tháp có châu"..."mình với ta tuy hai mà một.Ta với mình tuy một mà hai".( Triết lý "tương nhập"do "duyên sinh"trong Phật giáo,có một nét tương đồng nào đó với vật lý học hiện đại,và có thể biểu thị bằng vòng tròn thái cực,lưỡng nghi trong lý học Đạo gia 
Taoism).

Vòng tròn này biểu thị cho Thái Cực,là nguyên lý cơ bản của vũ trụ đồng nhất thể.Phần đen và trắng biểu thị cho Lưỡng Nghi là Âm và Dương,là hai nguyên lý đối lập cùng vận động,tương tác nhau mà sinh ra vạn vật.Trong phần trắng có chấm đen.Trong phần đen có chấm trắng.Đó là biểu thị của nguyên lý tương tức tương nhập bất khả phân của Thái Cực Lưỡng Nghi ( hầu như hoàn toàn tương đồng với nguyên lý nhân quả của nhà Phật : Trong quả có nhân,trong nhân có quả),cũng như ta không thể tách rời điện tích khỏi điện trường,hoặc không thể tìm thấy điện tích tồn tại biệt lập khi đập vỡ một hạt vi tử ( Particle) mang điện.

Có một điều đáng lưu ý trong vật lý học hiện đại là nếu có một hạt mang điện âm(e-)biến mất thì đồng thời cũng biến mất một hạt mang điện dương(e+),và nếu xuất hiện sự sinh ra hạt mới,chúng cũng sinh ra đồng thời đủ cặp (e- và e+).Đó là nguyên lý bảo toàn điện tích trong tự nhiên.Điều này khiến tôi nhớ tới câu kinh trong Bát Nhã Ba la Mật Đa Tâm Kinh :"Xá lợi Tử,thị chư pháp không tướng : bất sinh bất diệt,bất cấu bất tịnh, BẤT TĂNG BẤT GIẢM."

Đến đây ta có thể nhìn nhận rằng nguyên lý tương tức tương nhập bất khả phân ly là nguyên lý phổ quát bao trùm toàn bộ mọi hiện hữu cũng như sinh tồn.Bây giờ ta có thể quay lại chữ KHÍ được rồi.

Như đã mô tả từ đầu,KHÍ vô hình vô ảnh,có mặt khắp nơi trong vũ trụ và cùng biến dịch với mọi biến dịch.Đó chính là Thái Cực khí.Vì Thái Cực sinh Lưỡng Nghi nên có Âm Khí và Dương Khí.Vì Lưỡng Nghi tương tác mà sinh ra vạn vật  nên Khí cũng mang theo tên của vạn vật như Thiên Khí,Địa Khí,Thổ Khí,Thủy Khí,Cốc Khí.Vì vạn vật tương tác với nhau theo nguyên lý ngũ hành sanh khắc nên có Ngũ Hành Khí : Kim Khí,Thủy Khí,Mộc Khí,Hỏa Khí,Thổ Khí.

Vì con người là một tiểu thiên địa nên con người cũng mang theo trong bản thân mình tất cả các hình thức KHÍ như đã kể.Mỗi cá thể là kết quả của một công trình sáng tạo từ dòng chảy của hệ tộc nên KHÍ hiện hữu trong mỗi cá thể được phân loại theo tính thời gian và không gian là Tiên Thiên Khí và Hậu Thiên Khí.Tiên Thiên Khí bao gồm Nguyên Khí và Tông Khí,là KHÍ được truyền thừa từ bố mẹ tổ tiên.Hậu Thiên Khí bao gồm Thiên Địa Khí và Thủy Cốc Khí,là kHÍ được cá thể hập thụ từ đất,nước,không khí và các chất dinh dưỡng qua thức ăn thức uống.

Mỗi cá thể là một tiến trình vận động trong tự nhiên theo quy luật sinh tồn,mà thực hiện lý tưởng sinh tồn theo quy luật tự nhiên được khái quát hóa rất chặc chẽ và cụ thể trong triết học Chu Dịch.Ở đây ta chỉ cần lưu ý một đặc điểm nổi bật là sự hòa hợp với tự nhiên.

Sống hòa hợp với tự nhiên khiến cho các loại KHÍ bên trong vận hành trôi chảy với bên ngoài làm tinh thần và thể chất sung mãn,Khí vận hành theo cách đó gọi là Chân Khí.

Sự bất hài hòa xảy ra khiến Khí bị bế tắc bởi nhiều lý do.Khí đó được gọi là Tà Khí.Có 6 nguyên do từ môi trường bên ngoài dẫn tới Tà Khí gọi là Lục Khí (lục khí không những chỉ hiện hữu bên ngoài mà còn tiềm ẩn bên trong cơ thể) : 1.Hàn Khí thuộc Thủy.2.Táo Khí thuộc Kim.3.Hỏa Khí thuộc Tướng Hỏa.Đó là 3 loại Dương Khí.3 loại Âm Khí là : 4.Thử Khí hay Nhiệt Khí thuộc Quân Hỏa.5.Phong Khí thuộc Mộc.6.Thấp Khí thuộc Thổ.

Sáu loại KHÍ này có tác động xấu đến cơ thể như sau :


1.Hàn Khí hại gan : Giận dữ cũng làm hàn khí nghịch lên hại gan.

2.Táo Khí hại phổi :Vui mừng quá độ làm táo khí kết lại hại phổi.

3.Hỏa Khí hại tim : Buồn rầu làm thủy khí tiêu tán không khắc chế được hỏa khí nên hại tim.

4.Thử Khí hại thận : Sợ hãi quá khiến nội khí bế tắc tạo điều kiện cho thử khí làm hại thận.

5.Phong Khí hại tâm bào,tam tiêu :u uất trầm cảm khiến cơ thể không chống chịu được phong khí nên tâm bào và tam tiêu bị tổn thương..

6.Thấp Khí hại tỳ : Lo nghĩ làm khí kết lại không thông được nên thấp khí phát triển làm hại tỳ.

Như thế,ta thấy được mối quan hệ giữa trạng thái tâm lý với sự biến đổi sinh lý.Đó là lý do khiến một số trung tâm nghiên cứu y học lớn trên thế giới kết luận rằng "khoảng 90 phần trăm các loại bệnh tật đều có nguồn gốc tâm lý"

Hình như chưa có một giải thích thỏa đáng nào nào về cơ chế tác động của tâm lý đối với sinh lý.Tất cả chỉ là mô tả,nhưng hệ quả của nó thì đã được thừa nhận từ ngàn xưa tới nay.Chính vì thế mà cuộc đấu tranh của y học với bệnh tật không thể chấm dứt,bởi còn đau khổ thì còn bệnh tật,cho nên con người phải tìm tới một giải pháp khác là tôn giáo.Bất kỳ tôn giáo nào cũng có tác dụng xoa dịu nỗi đau của con người,làm thăng bằng tâm lý như một liệu pháp tinh thần hữu hiệu.Môn Khí Công dù không phải là một tôn giáo,nhưng tập luyện khí công với mục đích đạt đới sự hư tĩnh trọn vẹn của thân tâm cũng là một liệu pháp hữu hiệu chữa lành mọi khổ đau.

Cũng giống như KHÍ và chất,điện và trường,âm và dương : Tinh thần và thể chất là một chỉnh thể thống nhất trong một vũ trụ đồng nhất.Bảo vệ được tính thống nhất đó là bảo vệ được sự vẹn toàn của KHÍ,trả lại cho "Caesar những gì của Caesar".

Có thể kết luận KHÍ bằng 2 câu kinh :

1.Kinh Dịch nói rằng :"Luật trời không ở đâu xa.Luật trời biến dịch trong ta hài hòa."

2.Tâm kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa nói :"Xá Lợi Tử,sắc bất dị không.không bất dị sắc.Sắc tức thị không.Không tức thị sắc..."


                              YÊN HỒNG

DỊCH


 









 .










 












Sự đổi thay dường như là quy luật tất yếu của tự nhiên mà không ai trong chúng ta không cảm nhận.

Trong phạm vi con người và xã hội thì ta dễ cảm nhận được sự đổi thay.Nhưng khi ngắm nhìn non sông cẩm tú hoặc bầu trời đầy sao kỳ vĩ,ta lại có cảm giác như có một cái gì đó vĩnh hằng.Rồi đến khi giở những trang sách địa chất và thiên văn ra,cảm giác về sự vĩnh hằng đó lại tan biến như một làn mây mỏng giữa bầu trời bao la !

Sự đổi thay tựa như những làn sóng nhấp nhô trùng trùng điệp điệp,làm thế nào lần ra được đầu mối để nắm được quiy luật của nó ? Có lẽ đó là một khát vọng  cơ bản đeo đuổi con người từ ngàn xưa,đã đặt nền móng cho sự phát triển của Dịch học phương đông và khoa học phương tây.Viên đá nền tảng ấy chính là khái niệm nhị nguyên tương tác ( Hai thế lực đối lập,luôn luôn đối kháng nhau gây nên biến đổi ).

Núi sông nên thơ hữu tình khiến nhà thơ phải bồi hồi ngâm vịnh,họa sĩ phải phóng bút họa tranh.Nhưng triết gia lại nhìn thấy núi thì tĩnh tại,sông thì chuyển động không ngừng.Sông chảy quanh co thành một dòng liên tục.Những ngọn núi lặng yên tách biệt nhau bởi những thung lũng xanh dờn.Sông phải chảy để núi luôn là núi.Núi phải lặng yên để sông chính là sông.

Qua hình ảnh của núi sông,triết gia nhìn thấy từ bản thân mình đến thế giới quanh mình,đâu đâu cũng hiển hiện chuyển động và tĩnh tại,từ hơi thở vào ra,thức ngủ,làm việc và nghỉ ngơi,gió mây mưa nắng nóng lạnh bốn mùa...Chuyển động xảy ra như một dòng liên tục.Tĩnh tại hiển hiện như sự bất liên tục của chuyển động.Hai yếu tố này xem ra dường như đối lập nhau,nhưng chúng tạo điều kiện cho nhau sinh khởi,không thể thiếu nhau và dường như hòa quyện lẫn trong nhau.Chúng tiềm ẩn và hiển hiện trong khắp mọi sự vật như một thuôc tính của hiện hữu.

Nói sao đây để diễn đạt cái tri kiến trùng trùng điệp điệp ấy ! Làm thơ chăng ? Ngôn ngữ thông thường quả là bất lực,mỗi một lời đều có thể hiểu theo năm  bảy cách khác nhau,rất mơ hồ và không chuẩn xác ! Để diễn đạt được sự phong phú của tư tưởng và những cảm nghiệm sâu xa của kinh nghiệm cần phải có một hình thức ngôn ngữ với những biểu tương trừu tượng có tính khái quát rộng hơn ( như ngôn ngữ toán học hiện nay chẳng hạn,ví dụ như hệ nhị phân được ứng dụng trong ngôn ngữ tin học chỉ xử dụng hai con số : 1 và 0 mà trong máy tính có nghĩa là điện được nối hay điện bị ngắt ).Thế là triết gia phóng bút vẽ chuyển động như một vạch liền ( __ ) và tĩnh tại như một vạch đứt ( _ _ ).Họ gọi vạch liền là Dương và vạch đứt là Âm.

Có lẽ như lão Tử nói :"Đạo mà có thể gọi được thì không phải là cái Đạo thường hằng.Tên mà có thể gọi được không phải là cái tên vĩnh cửu "( Đạo khả đạo,phi thường đạo.Danh khả danh,phi thường danh./Lão Tử đạo Đức kinh,chương 1/),cho nên khái niệm Âm Dương chỉ là tương đối,cái ảo diệu của nó hoàn toàn được mã hóa bằng 2 biểu tượng ( __ ) và ( _ _ ).

Yếu tố tĩnh như một hạt mầm tiềm ẩn trong yếu tố động để biến động thành tĩnh ( __ có thể đứt ra thành _ _ ) ,và ngược lại cũng thế ( _ _ có thể nối lại thành __ ).Điều này nói lên một sự thật là không có bất kỳ một yếu tố nào là thuần nhất,đơn lẻ trong tự nhiên.Mỗi một yếu tố,dù được khái quát hóa tới mức đơn giản nhất,đều là một yếu tố kết hợp có động tính.Ví dụ như trong ngành vật lý hạt nhân,các nhà khoa học đều nhất trí rằng sự xuất hiện của một vi tử ( Particle : Hạt cơ bản ) phụ thuộc vào sự biến đổi qua lại của các vi tử khác.Đã từng có một số nhà khoa học giả định rằng có một loại vi tử họ đặt tên là Quac ( lấy cảm hứng từ một chuyện thần thoại ),là hạt cơ bản,nhưng cần phải có 3 Quac để hợp thành một vi tử.( Có sự tương đồng ý tưởng nào chăng với câu nói của Lão Tử : "Một sinh hai.Hai sinh ba.ba sinh vạn vật." )

Có lẽ người xưa đã biết không một yếu tố nào là thuần nhất đơn lẻ ,vì biến dịch xảy ra do các yếu tố đối lập luôn kết hợp và đối kháng nhau.Truyền thống tư duy của người phương đông thiên về trực giác hơn là luận lý.Qua nhiều đời quan sát và tư duy,họ cảm nghiệm được sự biến dịch của vạn vật dựa trên 2 yếu tố đối lập cơ bản xảy ra liên miên bất tuyệt tựa như một vòng tròn khép kín không có khởi điểm và chung cuộc.Không thể nào dùng lời nói để diễn giải kinh nghiệm ảo diệu này,người xưa đã mượn biểu tượng Âm ( _ _ ) Dương ( __ ) như một ngôn ngữ thiện xảo để lập nên tấm bản đồ về thực tại mà họ đã chiêm nghiệm được.

Để xây dựng nền tảng cho tấm bản đồ này,trước hết họ chồng 2 vạch giống nhau lên nhau ( = : Thái Dương.Hoặc == : Thái Âm) chúng sẽ loại trừ nhau để còn lại một liền và một đứt ( Thiếu Dương và Thiếu Âm,xin xem hình trên đầu bài ).Một liền một đứt cũng không hề yên vị,chúng thu hút nhau,hoán chuyển nhau tạo thành một chu trình khép kín không có khởi điểm và chung cuộc  : Từ Thái Dương đứt 1 dương thành Thiếu Dương.Từ Thiếu Dương đứt hết Dương thành Thái Âm.Từ Thái Âm nối một Dương thành Thiếu Âm.Từ Thiếu Âm nối 2 Dương lại quay về Thái Dương,rồi cứ thế mà tiếp diễn mãi...

Thế là từ Lưỡng Nghi ( Âm,Dương ) họ lập nênTứ Tượng ( Bốn biểu tượng có tính khái quát rất rộng : Thái Dương,Thiếu Dương,Thái Âm,Thiếu Âm )để mô tả yếu tính của một vũ trụ sinh động và nhất quán.

Một vũ trụ như thế chẳng ở đâu xa xôi,nó hiện hữu ở ngay trong chính mỗi con người.Nó là một bí ẩn diệu kỳ mà mỗi người chúng ta đều mang theo từ ngàn xưa.Nó được gọi là Thiên mệnh mà con người luôn mong muốn khám phá.Người xưa đã biết nhìn mây để dự đoán gió mưa,biết nhìn hành vi bất thường của các loài vật để dự đoán thiên tai.Đối với họ mỗi biểu tượng trong tự nhiên đều có ý nghĩa riêng của nó,hiểu được ý nghĩa ấy là hiểu được mênh trời.Những biểu tượng của tự nhiên gần gũi với cuộc sống của con người là đất,là trời,là nước,là lửa,là gió,là sấm chớp,là núi non,là ao đầm.Sự biến dịch của tứ tượng hàm tàng trong những biểu tượng ấy và trong khát vọng của con người như một thực tại sinh động.

Họ đã có trong tay cơ sở của tấm bản đồ thực tại là tứ tượng nên họ xây dựng tiếp bằng cách đem 4 vạch Dương chồng lên tứ tượng,rồi tiếp đến là 4 vạch âm,thế là họ lập nên 8 quẻ ( Bát Quái.Mỗi quẻ là một tổ hợp của 3 vạch âm dương.Có lẽ là "Nhất sinh nhị.Nhị sinh tam.Tam sinh vạn vật " chăng ? ) :

1. Càn ( Cứng cáp,mạnh mẽ.Càn vi Thiên,biểu tượng cho trời ).Xin xem hình thứ 8 ( Heaven ) theo hàng ngang từ trên xuống,hàng thứ 2 ở hình 8 quẻ trên đầu bài.

2.Khôn ( Nhu thuận.Khôn vi Địa,biểu tượng cho đất ).Hình thứ 1 ( Earth ) hàng thứ 1.

3.Li ( Sáng rỡ.Li vi Hỏa,biểu tượng cho lửa ).Xem hình thứ 6 ( Fire ) hàng thứ 2.

4.Khảm ( Hiểm trở.Khảm vi Thủy,biếu tượng cho nước ).Hình thứ 3 ( Water ) hàng thứ 1.

5.Cấn ( Yên tĩnh.Cấn vi Sơn,biểu tượng cho núi ).Hình thứ 2 ( Mountain ) hàng thứ 1.

6.Đoài ( Vui vẻ.Đoài vi Trạch,biểu tượng cho ao đầm ).Hình thứ 7 ( Lake ) hàng thứ 2.

7.Tốn ( Ùa vào.Tốn vi phong,biểu tượng cho gió ).Hình thứ 4 ( Wind ) hàng thứ 1.

8.Chấn ( Biến động.Chấn vi Lôi,biểu tượng cho sấm sét ).Hình thứ 5 ( Thunder ) hàng thứ 2.

Trong lịch sử văn minh nhân loại,người ta nhận thấy có 2 xu hướng phát triển : thuần lý và ứng dụng.Nhu cầu hiểu biết khiến các nhà tư tưởng đắm chìm trong chiêm nghiệm để khám phá chân lý.Nhu cầu thực tiễn khiến các nhà ứng dụng tìm cách vận dụng lý thuyết vào thực tế.Hai xu hướng này dường như phát triển song hành và hỗ trợ lẫn nhau,từ tôn giáo đến triết học và khoa học.

Có lẽ  tình hình đã xảy ra như thế đối với kinh Dịch khi các nhà sử học tìm thấy bằng chứng rằng người Trung Quốc cổ đại đã dùng Bát Quái trong phép bói cỏ thi vào cuối đời nhà Thương ( Ân ) đầu đời nhà Chu ( khoảng 1130 năm trước Công nguyên ).Sự vận dụng Bát Quái vào phép bói cỏ thi đạt được nhiều ưu điểm hơn phép bói bằng yếm rùa cổ xưa,từ phương pháp giản dị hơn đến hiệu quả chính xác hơn.

Những thuật bói toán khác nhau tồn tại trong truyền thống của tất cả mọi dân tộc trên thế giới từ ngàn xưa cho đến bây giờ.Điều đó nói lên khát vọng an toàn trong cuộc sống đầy bất trắc của con người là một nhu cầu chính đáng.Họ muốn biết trước vận mệnh của mình,một là để an tâm với những điều lành,hai là để có hy vọng tránh được điều dữ.

Đối với đa số trong giới có học thức tôn sùng khoa học hiện nay thì họ cho rằng bói toán là thói mê tín dị đoan của hạng bình dân.Nhưng đối với một số nhà khoa học có tầm cỡ của thế giới như nhà phân tâm học người Thụy Sĩ Carl Gustav Jung (1875-1961) thì ông nhìn bói toán từ một góc độ khác,có lẽ phù hợp với góc độ của cổ nhân đã từng sáng tạo ra ngôn ngữ biểu tượng của kinh Dịch.

Carl Jung là nhà phân tâm học nên ông rất quan tâm tới những biểu tượng của giấc mơ để khám phá thế giới tiềm thức của con người.Những hình ảnh của giấc mơ là phù phiếm và vô bổ trong nhãn giới của các nhà khoa học khác,nhưng đối với Jung chúng có một ý nghĩa rất đặc biệt.Trong tác phẩm Thăm Dò Tiềm Thức (Essai d'exploration de l'inconscient),ông giả định về sự tồn tại của cái gọi là "Tiềm Thức Tập Thể ".Ý tưởng này là chìa khóa giúp ông có thể giải mã được những hiện tượng mà người ta cho là mê tín dị đoan như bói toán và đồng bóng,bởi ông đã gặt hái được nhiều kinh nghiệm thực tế khi ông chu du khắp thế giới để thâm nhập vào các nền văn hóa cổ sơ của những dân tộc khác nhau,từ Phi Châu đến Ấn Độ và Trung Hoa.Chính ông là người viết lời bạt nổi tiếng cho dịch phẩm kinh Dịch đầu tiên từ tiếng Hoa ra tiếng Đức của học giả Richard Wilhelm.Ông đã nhìn ra những sợi tơ nhện dính mắc giữa ngôn ngữ biểu tượng của kinh Dịch với ngôn ngữ biểu tượng của giấc mơ nên đã có ý tưởng ứng dụng kinh Dịch vào việc khám phá thế giới bí ẩn của tiềm thức.

Ở chương "quá khứ và tương lai của tiềm thức" trong tác phẩm thăm dò tiềm thức,ông viết :"Tiềm thức không phải chỉ là cái kho chứa quá khứ của ta mà còn đầy dẫy những trạng thái tâm thần và ý tưởng sắp xảy đến...Những ý đó hiển lộ từ vực sâu tối thẳm của tâm hồn tựa như một bông sen..."

Như ta đã biết,nội dung chính yếu của Bát Quái là sự biến dịch bởi lưỡng nghi tương tác :"Cùng tắc biến.Biến tắc thông."Nhưng thông rồi không phải là hết.Quẻ 63 của kinh Dịch là quẻ Thủy Hỏa Kí Tế,nghĩa là đã xong.Nhưng quẻ 64 là quẻ Hỏa Thủy Vị Tế,nghĩa là chưa xong.Thế có nghĩa là thông rồi lại bế,lại cùng để rồi lại biến.

Với nội dung của một triết lý động như thế thì kinh Dịch không thể chấp nhận một dạng định mệnh tiền định cứng ngắt.Thế thì tại sao xem bói lại thấy đúng.Đến đây ta sẽ nhận ra mối tương quan giữa tiềm thức và nội hàm của Bát Quái.Qua nhận xét của Jung về quá khứ và tương lai của tiềm thức,ta thấy tiềm thức là một quá trình động chẳng khác gì Tứ Tượng.Những khát vọng của con người ẩn sâu trong tiềm thức luôn đùn đẩy nhau để ngoi lên bề mặt của ý thức như một cuộc biến thông đầy sáng tạo mà quá khứ và tương lại không còn phân biệt.Định mệnh của con người chính là kết quả của công cuộc sáng tạo đó.Nó không phụ thuộc chỉ riêng vào cá nhân,mà phụ thuộc vào nhiều yếu tố xã hội và tự nhiên khác.kinh Dịch đã mã hóa tất cả các mối tương quan đó trong 64 quẻ,mà khát vọng an toàn và hạnh phúc của con người là một phần trong đó ( được giảng giải chính yếu bởi Thoán Truyện và Tượng truyện ),nên khi xem bói ý thức của ta tác động đến những khát vọng thầm kín của tiềm thức và ta nhận ra được cái định mệnh sáng tạo của chính mình.

Với nội dung hạn hẹp của entry này tôi không thể trình bày tất cả 64 quẻ của kinh Dịch.Các bạn nào muốn đi sâu vào lãnh vực Dịch học có thể tham khảo kinh Dịch,bản dịch của Ngô Tất Tố,của Phan Bội Châu,Dịch Học Tinh Hoa của nguyễn Duy Cần và Kinh Dịch,Đạo Của Người Quân Tử của Nguyễn Hiến Lê. Tôi chỉ có thể nói vắn tắt rằng sự xuất hiện của 64 quẻ là do cổ nhân đã lần lượt chồng 8 quẻ của Bát Quái lên nhau,gọi là trùng quái.Thế là họ đã có được một bản đồ chi tiết về thực tại mà từ đó họ có thể diễn giải nhân sinh quan,vũ trụ quan của mình,tựa như một nhà khoa học diễn giải mô hình toán học của một lý thuyết khoa học bằng ngôn ngữ phổ thông.

Thông qua kinh Dịch ta có thể ngộ ra lẽ biến hóa của trời đất  cũng như trong chính bản thân ta để lựa chọn một khuynh hướng hành xử thích hợp trong đời.

Có lẽ Lão Tử đã ngộ ra chân lý ấy nên đã hành xử theo đạo vô vi.

Có lẽ Carl Jung đã ngộ ra chân lý ấy nên đã đi tìm cái "mịt mịt" ( tiềm thức ) thay vì cái "minh minh" ( ý thức ).

Có lẽ kahlil Gibran đã ngộ ra chân lý ấy nên đã viết: "Thấu hiểu ngôn từ là im bặt trong lòng.
Là buông xả theo dòng vô ngôn lặng lẽ..."

                        
                         YÊN HỒNG

Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2013

TÂM SƯ




1.
 H
n tôi đã dy cho tôi biết yêu mến nhng gì người khác khinh chê và kết bn vi nhng k mà h sĩ nhc.

H
n tôi đã dy tôi hiu rng tình yêu t nó tràn đy như nhau trong k yêu ln k được yêu.

Tr
ước kia tôi tưởng tình yêu trong tim tôi ta như si ch mành treo chuông.

Nh
ưng gi đây tôi hiu rng tình yêu như mt vòng hào quang mà khi đim là chung cuc và chung cuc cũng chính là khi đim.

Nó vây b
c tng trái tim và tri rng đến tt c mi trái tim.

2.
     H
n tôi đã dy tôi biết nhn ra cái đp b khut lp bi ngoi hình vi đy đ đường nét và sc màu đc đáo.
H
n tôi đã dy tôi biết suy gm li nhng gì thiên h chê bai cho đến khi v đp đích thc ca nó l ra  trong dt dào xúc cm.

Tr
ước kia tôi ch thy cái đp như mt ngn đuc lung lay gi đám khói mt mù.

Nh
ưng gi đây khói đã bay tan,tôi chng thy gì ngoài ngn la.

3.
H
n tôi đã dy tôi biết lng nghe nhng tiếng nói không được tht thành li.

Tr
ước kia tôi chng nghe gì ngoài nhng tiếng thét gào khóc lóc rên siết th than.

Gi
đây tôi biết lng nge nhng âm thanh ca tĩnh lng vi bn hp xướng ca hư không ca tng nhng bí n ca vô hình.

4.
H
n tôi đã dy tôi biết thưởng thc th rượu nho chng th ép và chng th rót ra chén cc đ nâng lên môi.

Tr
ước kia lòng khao khát ca tôi ch như mt đm la gia đng tro,ch cn mt ngm nước là tt ngóm.

Nh
ưng gi đây lòng khao khát ca tôi đ biến thành chén cc,xúc cm biến thành rượu và cô đơn là thú say sưa.Gia sa mc khát khao vô đ này hin ra mt c đo xanh nim vui vĩnh cu.

5.
H
n tôi đã dy tôi biết chm tay vào nhng gì chưa được hin hình.

Tr
ước kia tôi tưởng nhng gì ta s mó được đu là hin thân ca dc vng.

Nh
ưng gi đây nhng ngón tay tôi đã biến thành sương mù thm nhp vào nhng th hu hình trong vũ tr và hp nht vi nhng th vô hình.


6.
H
n tôi đã dy tôi biết hô hp th hương thơm mà chng loài hoa hay hương liu nào lan ta.

Tr
ước kia tôi ch biết mê say hương hoa trong vườn và hương trm trong nhà.

Nh
ưng gi đây tôi hít đy lng ngc mt th hương thơm mà chng ngn gió nào có th đùa ct cun đi.

7.
H
n tôi đã dy tôi biết nói tiếng SN SÀNG trong tng giây phút.

Tr
ước kia tôi quyết không bao gi đáp li nhng tiếng gi xa l và không bao gi bước đi trên nhng li không quen.

Gi
đây bng TINH TN và TRÍ HU,tôi s đáp li mi tiếng gi và bước đi trên mi no đường.

8.
H
n tôi đã dy tôi biết thi gian là vô hn.

Tr
ước kia tôi nui tiếc quá kh và mơ tưởng tương lai.Tôi cho rng quá kh không bao gi tr li và tương lai không bao gi vươn ti.

Gi
đây tôi biết rng phút giây hin ti cha đng c quá kh tương lai mà ta có th hy vng và thc hin.

9.
H
n tôi đã dây tôi biết không gian là vô biên.

Tr
ước kia tôi phân bit không gian nên su kh vì xa cách.Mi bước tôi đi là mi min không gian tách bit chia lìa.

Bây gi
tôi nhn ra nơi nào mình hin hu là nơi đó dung cha tt c mi không gian.Mi bước tôi đi là mi khong cách ôm choàng mi khong cách.

10.
H
n tôi đã dy tôi biết thc khi k khác ng và ng khi k khác thc.

Tr
ước kia tôi cho rng không ai có th mơ được gic mơ ca người khác.

Gi
đây tôi biết rng tôi có th chiêm ngưỡng gic mơ ca người khác cũng như h có th chiêm ngưỡng nhng gic mơ tôi.

11.
H
n tôi đã dy tôi ch vui vì tiếng khen và ch bun vì tiếng chê.

Tr
ước kia tôi b tiếng đi chi phi vì không hiu được giá tr ca cn lao.

Bây gi
tôi nhn ra rng hoa c n r mùa xuân và kết trái mù hè mà không cn tiếng khen.Cây ci rng lá mù thu và trn trung mùa đông mà chng s tiếng chê.

12.
H
n tôi đã dy tôi biết tôi chng hơn gì người tí hon mà cũng chng kém gã khng l.

Tr
ước kia tôi hay thương hi k yếu và chng đi k mnh.

Gi
đây tôi biết rng tôi ging c hai.Ci ngun ca tôi cũng là ci ngun ca h.Ý thc ca tôi là ý thc ca h.Cuc đu tranh ca tôi là cuc đu tranh ca h và hành trang ca tôi cũng chính là hành trang ca h.

N
ếu h phm ti thì tôi không th vô ti.Nếu h biếng nhác thì tôi cũng biếng lười và nếu h chăm lo vic thin thì tôi cũng chăm lo.

13.
H
n tôi luôn nhc nh tôi :

"Ng
n đuc trên tay ngươi chng phi ca ngươi.
Bài ca ng
ươi đang hát chng phi do ngươi sáng tác.Bi l dù ngươi cm ngn đuc nhưng ngươi không phi là ánh sáng.Dù ngươi là cây đàn nhưng ngươi không phi là nhc sĩ khy đàn.

14.
H
i các bn thân thương,hn tôi đã dy tôi nhiu điu và chc hn hn bn cũng dy bn nhiu điu tương t.

B
i vì bn vi tôi tuy hai mà mt.Chng có gì khác bit gia chúng ta dù tôi có hăm h nói nhiu còn bn thì thanh bình im lng.Tôi phát ngôn t tn cùng tâm thc tôi và bn im lng trong tn cùng tâm thc bn.

T
t c đu cùng chung mt bí n và cha đng mi bao la.

                            KAHLIL GIBRAN



To see a World in a Grain of Sand
And a Heaven in a Wild Flower,
Hold Infinity in the palm of your hand
And Eternity in an hour.

— William Blake. Auguries of Innocence (1789).

Để nhìn thấy thế gian trong hạt cát
Và thiên đàng giữa một đóa hoa rừng
Hãy nắm lấy vô biên trong bàn tay của bạn
Và từng giây thấy vĩnh cữu không ngừng.  


      YÊN HỒNG phỏng dịch