Thứ Tư, 16 tháng 1, 2013

BÁT CHÁNH ĐẠO







Hôm nay nhân ngày lễ Phật Đản bèn mạn phép đàm về Phật Pháp.

Phật Pháp thì vô biên,Kinh sách để lại ngót trên"tám vạn tư",bỏ cả đời người cũng không sao bàn cho hết ! Hơn nữa chỗ tinh thâm nhất của Phật Pháp lại là chỗ"không thể nghĩ bàn"(Bất khả tư nghì) ! Vậy thì tôi có thể nói gì bây giờ !

Nhớ lại trong truyện "Ỷ Thiên Đồ Long ký"của Kim Dung có nhà sư"Nói Không Được"(Bất Khả Thuyết),nhưng tôi không phải là nhà sư,vậy thì tôi cứ nói thoải mái phải không,hehehe.

Có thể bạn sẽ quở tôi không nghiêm trang khi bàn chuyện Phật Pháp,vì mọi người thường có thói quen đeo mặt nạ khi bàn chuyện nghiêm túc,nhưng ai biết dưới lớp mặt nạ đó họ khóc hay cười ! Bởi thế Đức Phật đã dạy về KHỔ ĐẾ như là chân lý căn bản để nhận thức bản chất cuộc sống.Con người ta thường chỉ nhìn thấy chiếc mặt nạ của kẻ khác cũng như kẻ khác nhìn thấy chiếc mặt nạ của mình,cuộc sống trở nên cứng nhắc và giả tạo,và thế là khổ !

Nhưng Đức Phật đã giải quyết vấn đề bằng Chân Lý thứ bốn,ĐẠO ĐẾ,là con đường đưa ta ra khỏi ngõ cụt của KHỔ(nên hiểu rộng hơn về Khổ,không phải chỉ là nhửng đau khổ của thể chất và tinh thần thuộc kinh nghiệm sống,mà là những ảo tưởng,những định kiến,những chiếc mặt nạ ma quái tự ta nhào nặn để đeo lên mặt mình và kẻ khác).Đạo Đế chính là BÁT CHÁNH ĐẠO,không phải là tám con đường riêng lẻ,nhưng là 8 thứ bảo bối trong gói hành trang để đi vào con đường giải thoát,đó là :

1.Chánh kiến( Nhìn thấy mọi thứ đúng theo chân lý)
2.Chánh tư duy(suy nghĩ mọi việc đúng theo chân lý).
3.Chánh ngữ(nói năng đúng theo chân lý).
4.Chánh nghiệp(hành động hợp với chân lý)
5.Chánh mạng(sống đúng với chân lý)
6.Chánh tinh tấn(nổ lực vì chân lý)
7.Chánh niệm(Ý thức bao quát tất cả trong chân lý).
8.Chánh định(Tập trung toàn bộ thể xác và tinh thần vào Chân lý).

Đức Phật đã dùng ngón tay chỉ mặt trăng và bảo chúng ta hăny nhìn trăng chứ đừng chằm hăm vào ngón tay của Ngài.Chao ôi,chị Hằng quả là tuyệt thế giai nhân,nhưng đường lên trăng sao mà diệu vợi !Giàu có hùng mạnh như nước Mỹ  mà cũng chỉ mới đưa được có mấy người lên trăng,cỡ chúng ta làm gì có cửa,hehe.Nhưng hồi xưa Đường Minh Hoàng du nguyệt điện mà đâu cần tới phi thuyền Apollo.Hãy cứ tin tưởng vào Đức Phật,Ngài đã chỉ ra 8 món bảo bối,cứ tập xử dụng cho tốt thì thế nào cũng có ngày đạt được thần thông lên trăng mà không cần thuê tàu của Mỹ,hehehe.

Nhưng biết tìm 8 món bảo bối ấy ở đâu bây giờ !Coi bộ còn gay go hơn cả đi tìm "lá diêu bông"chứ chẳng phải chơi ! Tôi chợt nhớ có một bài thơ của Tagore như thế này :

"Trong bóng tối rừng cây tôi chạy
Như xạ hưu tự say với hương mình.
Nhưng đêm nay đã là giữa mùa Xuân
Với ngọn gió từ phương nam thổi đến.

Tôi lạc lối giữa rừng đêm khập khễnh
Tôi tìm tôi,tìm ảo ảnh trong tay
Tôi tìm cái mình không thể có
Và có trong tay cái không thể kiếm tìm."

A ! Thế là đã rõ,tôi đang có trong tay cái không thể kiếm tìm,đó chính là 8 món bảo bối Đức Phật đã chỉ.Đó là cuộc sống hàng ngày của chúng ta : nói năng, suy nghĩ,làm việc,giao tiếp,v...v...Bao trùm toàn bộ cuộc sống thường ngày là chân lý,Chúng ta có"chạy trời cũng không khỏi nắng",hehe.Nhưng quý bà quý cô lại hay sợ nắng,cứ ra nắng là phải bôi kem chống nắng !Còn quý ông đang ở ngoài nắng thì chỉ thích vô mát ngồi uống bia thôi,hehe.Thế mới biết chân lý ở ngay bên cạnh mà chả ai thèm quan tâm đến,thật phí phạm cho :

"Những ngày xuân trong ánh nắng tươi màu
Hương ngào ngạt bên sắc hoa nở thắm.
Trên lối nhỏ xuyên qua rừng xanh thẳm
Người đến bên tôi trong nắng sáng lung linh."
                             Tagore-Tâm Tình Hiến Dâng.

Nhân ngày Phật Đản mạn phép nói chuyện Phật Pháp bằng lời lẽ thiệt thà,dám mong Phật tử gần xa niệm tình mà từ bi hỉ xả.

        Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

                                  -000-

BÁT CHÁNH ĐẠO TRONG ĐỜI SỐNG HÀNG NGÀY CỦA TÔI

1.CHÁNH KIẾN.

Mỗi lần nghe ai phát biều chuyện gì đó,tôi không bao giờ để mình bị cuốn theo cơn lốc phê phán của người ta,giống như khi nghe tin tức và bình luận trên đài,tôi chỉ ghi nhận thông tin mà không xử lý,không phê phán.Nếu cần phải có một nhận định,tôi đặt những vấn đề riêng lẻ vào trong một toàn cảnh rồi để cho trực giác làm việc.

2.CHÁNH TƯDUY

Suy nghĩ đúng chân lý là một kiểu suy nghĩ mang nội dung không suy nghĩ.Suy nghĩ bất cứ điều gì cũng phải xuất phát từ một quan điểm nào đó,kể cả suy nghĩ về chân lý,mà có quan điểm là sẽ có định kiến,mà có định kiến thì không thể nào phù hợp với chân lý.Con người là một cây sậy biết suy nghĩ,không thể bắt nó không được suy nghĩ,nhưng cũng đừng để nó chỉ suy nghĩ theo kiểu cây sậy,mà hãy để nó suy nghĩ theo kiểu của người xử dụng cây sậy.

3.CHÁNH NGỮ

Mỗi lời nói tựa như một viên đạn bắn ra khỏi nòng súng,nó có thể gây sát thương cho kẻ khác hoặc gây ra những phá hủy không đáng có.Ông bà xưa dạy"Hãy uốn lưỡi 7 lần trước khi nói".Nếu áp dụng ở thời buổi này chắc cần phải tới 7 ngàn lần,vì thời buổi tin học,tốc độ vi xử lý khiếp lắm,hehe.Thế thì để bảo vệ người chung quanh bạn nên xài đạn giả,hehe.Nếu không có đạn giả thì bạn bắn lên trời thôi,khỏi sợ trúng ai,hehehe.
Lời nói xuất phát từ trái tim.Nếu tâm chưa đủ từ bi hỉ xả thì hãy cẩn thận lời nói để khỏi làm tổn thương người khác.Người Nhật có câu"Nói dối là mang tội,nhưng nói thật tất tần tật thì tội còn lớn hơn"(chánh ngữ mà thiếu chánh kiến chánh tư duy thì hậu quả khó lường).

4.CHÁNH NGHIỆP

Lời nói thì chỉ như viên đạn,nhưng  việc làm thì như bom nguyên tử ! Nổ một trái bom nguyên tử thì cả trăm năm sau vẫn không khắc phục được hết mọi hậu quả.Nghiệp tạo duyên,mà duyên nghiệp thì trùng trùng,làm đúng hóa sai làm sai hóa đúng(quan niệm Đại Thừa"Sát nhất miêu cứu vạn thử"),rất khó xác định phương hướng.Trong Phật Pháp có Pháp hữu vi và Pháp vô vi,Chánh nghiệp thuộc Pháp vô vi.Muốn thực hiện Chánh nghiệp phải luôn sống trong Chánh niêm.Nhưng thực hành đơn giản nhất là hễ thấy điều gì mang lại lợi lạc cho người khác,cho xã hội thì cứ làm nếu động lục xuất phát từ chính trong tim.

5.CHÁNH MẠNG

Chúng ta thường cho rằng muốn có cuộc sống đúng theo chân lý thì phải chọn một nghề lương thiện.Những nghề như trộm cướp,đồ tể,mãi dâm,gian thương v...v...bị cho là đọa lạc.Nhưng hãy xét kỹ lại mình xem,những người tự cho là làm nghề chân chính há chẳng từng trộm cướp,gian lận,mãi dâm,đồ tể ngay trong lãnh vực nghề nghiệp của mình đó sao ?Đồ tể biết buông dao thì cũng thành Phật,vậy hãy buông dao ngay trong lãnh vực nghề nghiệp và cuộc sống hàng ngày của chính mình.

6.CHÁNH TINH TẤN

Chữ tinh tấn gợi cho ta cảm giác hăng say của sư nổ lực làm việc vì mục đích cao đẹp.Tinh tấn là nội dung của tính cần mẫn siêng năng.Người ta chỉ siêng năng làm những gì người ta thật sự yêu thích,bằng ngược lại thì siêng năng là một gánh nặng khó mang.Để sẵn sàng nổ lực vì chân lý thì phải có một tình yêu chân lý mãnh liệt,một nhu cầu tự thân.Nhưng dù sao thì việc tập thành một thói quen tinh tấn cũng rất cần thiết.Giữ thói quen đừng để bị lôi cuốn vào chuyện thị phi.Giữ thói quen thận trọng trong suy nghĩ,nói năng hành động và lấy đó làm phương tiện để phát huy tâm từ bi hỉ xả ra ngoài đời.Giữ thói quen luôn biết phản tỉnh trong nghề nghiệp để đừng bao giờ lượm lại con dao của đồ tể đã bỏ mà xài.Giữ thói quen sống trong chánh niệm,luôn chú tãm vào hơi thờ bất kỳ lúc nào có thể chú tâm được.Giữ thói quen luyện tập Thiền định hàng ngày.

7.CHÁNH NIỆM

Chánh niệm là bảo bối của những bảo bối.Chánh niệm là hơi thở xuyên suốt Bát Chánh Đạo,không có Chánh niệm thì không có Bát Chánh Đạo.Chánh niệm chính là tự thân chân lý thể hiện qua cửa ngõ của ý thức nhưng không phải là ý thức,vì thế nội dung của Chánh niệm là Vô niệm.Để thực hành Chánh niệm thì nên chú tâm vào hơi thở,mọi tạp niệm sẽ lộ diện chân tướng của nó là Không tướng và Chánh niệm cũng sẽ hiển lộ chân tánh của nó là Không tánh.

8.CHÁNH ĐỊNH

Chánh định là con tàu đưa ta bay vào không gian Chánh niệm.Không xử dụng Chánh định thì sẽ xa rời Chánh niệm.Thực tập Thiền định hàng ngày sẽ phát triển và nâng cao khả năng của định lưc.Với định lưc tốt thì Chánh định sẽ đươc thực hiện trong từng hành vi :đi đứng nằm ngồi ăn uống ngủ nghỉ.(Hãy nhớ lại chuyện một tu sĩ Bà La Môn hỏi Đức Phật : Ngài có gì khác vời ngườ thường ? Đức Phật trả lời :"Ta cũng như người thường,cũng đi đứng nằm ngồi ăn uống ngủ nghỉ.Nhưng ta khác người thường ở chỗ khi ta đi ta BIẾT ta đi,khi ta đứng ta BIẾT ta đứng....)

Bát Chánh Đạo là ngón tay của Đức Phật dùng để chỉ mặt trăng,mà mỗi người chúng ta đều có ngón tay giống như Đức Phật.Chỉ khác ở chỗ chúng ta vẫn còn ngắm trăng,có nghĩa là trăng còn ở rất xa.Khi không còn thấy trăng nữa thì sẽ xảy ra một trong hai khả năng : 1.Đã giác ngộ.2.Mệt mỏi và buồn ngủ nên đă nhắm mắt vô giường.Hehehehe.

                               -000-

khí





Khái niệm KHÍ trong triết học và y lý đông phương có mặt trong rất nhiều sách vở tài liệu,các bạn có thể tham khảo để có kiến thức sâu rông về lãnh vực này.Riêng tôi chỉ có thể nói vắn tắt đôi điều theo hiểu biết của mình.

Trước hết,KHÍ không phải là không khí,không phải là năng lượng,không phải là một dạng vật chất cụ thể có thể phân tích và đo đạc.Có thể hiểu KHÍ như một "trường" ( theo nghĩa vật lý học),một dạng "siêu dây" (Superstring Theory,một lý thuyết vật lý học hiện đại lý giải những hiệu ứng ở cấp vũ trụ trong không gian đa chiều :"Multi-Dimensional Space",ít nhất là 10 chiều). KHÍ vô hình vô ảnh.KHÍ có mặt ở khắp nơi trong vũ trụ và cùng biến dịch với mọi biến dịch.

Để có một khái niệm tương đối rõ ràng hơn về KHÍ,ta hãy thử làm một so sánh KHÍ trong lý học phương đông với TRƯỜNG trong vật lý học phương tây,dù hai lãnh vực này hoàn toàn khác nhau và không có tiếng nói chung,nhưng trong phạm vi ngôn ngữ thông thường được bao bọc bởi óc tưởng tượng khái quát,tôi nghĩ ta có thể ngộ ra lẽ tương đồng ở một số mặt nào đó.

TRƯỜNG trong vật lý học có nhiều dạng,ở đây ta thử dùng khái niệm"trường điện từ"(Electromagnetic Field ) để so sánh vì ta đang sống trong thế giới của trường này với phố xá sáng choang ánh điện,với máy vi tính,điện thoại di động,TV...là những biểu hiện rõ nét của lực điện từ.Nhưng những hoạt động bình thường khác như khi ta ngắm nhìn thiên nhiên tươi đẹp mà không ngạc nhiên vì sao ta có thể nhìn thấy những khung cảnh tuyệt vời ấy.khi ta đặt một bình hoa trên bàn mà không ngạc nhiên vì sao nó không bị lực hút của trái đất lôi nó xuyên thủng mặt bàn...tất cả đều do bản chất điện từ mà ra.Lực điện từ có thiên hình vạn trạng như một đóa sen ngàn cánh nở ra giữa thế giới của chúng ta.

Trong vật lý học,"trường điện từ" được mô tả như là một "trường vật lý của các điện tích chuyển động và thực hiện sự tương tác của chúng".Ở đây ta gặp khó khăn với "điện tích",vì muốn hiểu "điện từ trường" ta cần phải hiểu "điện tích" là gì.Vậy lý học mô tả "điện tích"như là tính chất của một số hạt cơ bản ( Particle : hạt nhỏ dưới mức nguyên tử như electron,proton,neutron...)
thể hiện ở chỗ các hạt đó luôn gắn liền với trường điện từ và chịu những tác động nhất định của trường điện từ".

Than ôi ! Tình trạng này khác nào"Không đi thì nhớ thì thương.Đi ra mắc phải cái mương cái cầu !Không đi thì nhớ thì rầu.Đi ra mắc phải cái cầu cái mương !"

Tình huống này làm tôi nhớ đến câu chuyện Thiện Tài Đồng Tử trong kinh Hoa Nghiêm.Thiện Tài  thấy viên minh châu trong bảo tháp.Đi vào bảo tháp để tìm viên minh châu lại thấy bảo tháp trong viên minh châu.Thế là"trong châu có tháp,trong tháp có châu"..."mình với ta tuy hai mà một.Ta với mình tuy một mà hai".( Triết lý "tương nhập"do "duyên sinh"trong Phật giáo,có một nét tương đồng nào đó với vật lý học hiện đại,và có thể biểu thị bằng vòng tròn thái cực,lưỡng nghi trong lý học Đạo gia 
Taoism).

Vòng tròn này biểu thị cho Thái Cực,là nguyên lý cơ bản của vũ trụ đồng nhất thể.Phần đen và trắng biểu thị cho Lưỡng Nghi là Âm và Dương,là hai nguyên lý đối lập cùng vận động,tương tác nhau mà sinh ra vạn vật.Trong phần trắng có chấm đen.Trong phần đen có chấm trắng.Đó là biểu thị của nguyên lý tương tức tương nhập bất khả phân của Thái Cực Lưỡng Nghi ( hầu như hoàn toàn tương đồng với nguyên lý nhân quả của nhà Phật : Trong quả có nhân,trong nhân có quả),cũng như ta không thể tách rời điện tích khỏi điện trường,hoặc không thể tìm thấy điện tích tồn tại biệt lập khi đập vỡ một hạt vi tử ( Particle) mang điện.

Có một điều đáng lưu ý trong vật lý học hiện đại là nếu có một hạt mang điện âm(e-)biến mất thì đồng thời cũng biến mất một hạt mang điện dương(e+),và nếu xuất hiện sự sinh ra hạt mới,chúng cũng sinh ra đồng thời đủ cặp (e- và e+).Đó là nguyên lý bảo toàn điện tích trong tự nhiên.Điều này khiến tôi nhớ tới câu kinh trong Bát Nhã Ba la Mật Đa Tâm Kinh :"Xá lợi Tử,thị chư pháp không tướng : bất sinh bất diệt,bất cấu bất tịnh, BẤT TĂNG BẤT GIẢM."

Đến đây ta có thể nhìn nhận rằng nguyên lý tương tức tương nhập bất khả phân ly là nguyên lý phổ quát bao trùm toàn bộ mọi hiện hữu cũng như sinh tồn.Bây giờ ta có thể quay lại chữ KHÍ được rồi.

Như đã mô tả từ đầu,KHÍ vô hình vô ảnh,có mặt khắp nơi trong vũ trụ và cùng biến dịch với mọi biến dịch.Đó chính là Thái Cực khí.Vì Thái Cực sinh Lưỡng Nghi nên có Âm Khí và Dương Khí.Vì Lưỡng Nghi tương tác mà sinh ra vạn vật  nên Khí cũng mang theo tên của vạn vật như Thiên Khí,Địa Khí,Thổ Khí,Thủy Khí,Cốc Khí.Vì vạn vật tương tác với nhau theo nguyên lý ngũ hành sanh khắc nên có Ngũ Hành Khí : Kim Khí,Thủy Khí,Mộc Khí,Hỏa Khí,Thổ Khí.

Vì con người là một tiểu thiên địa nên con người cũng mang theo trong bản thân mình tất cả các hình thức KHÍ như đã kể.Mỗi cá thể là kết quả của một công trình sáng tạo từ dòng chảy của hệ tộc nên KHÍ hiện hữu trong mỗi cá thể được phân loại theo tính thời gian và không gian là Tiên Thiên Khí và Hậu Thiên Khí.Tiên Thiên Khí bao gồm Nguyên Khí và Tông Khí,là KHÍ được truyền thừa từ bố mẹ tổ tiên.Hậu Thiên Khí bao gồm Thiên Địa Khí và Thủy Cốc Khí,là kHÍ được cá thể hập thụ từ đất,nước,không khí và các chất dinh dưỡng qua thức ăn thức uống.

Mỗi cá thể là một tiến trình vận động trong tự nhiên theo quy luật sinh tồn,mà thực hiện lý tưởng sinh tồn theo quy luật tự nhiên được khái quát hóa rất chặc chẽ và cụ thể trong triết học Chu Dịch.Ở đây ta chỉ cần lưu ý một đặc điểm nổi bật là sự hòa hợp với tự nhiên.

Sống hòa hợp với tự nhiên khiến cho các loại KHÍ bên trong vận hành trôi chảy với bên ngoài làm tinh thần và thể chất sung mãn,Khí vận hành theo cách đó gọi là Chân Khí.

Sự bất hài hòa xảy ra khiến Khí bị bế tắc bởi nhiều lý do.Khí đó được gọi là Tà Khí.Có 6 nguyên do từ môi trường bên ngoài dẫn tới Tà Khí gọi là Lục Khí (lục khí không những chỉ hiện hữu bên ngoài mà còn tiềm ẩn bên trong cơ thể) : 1.Hàn Khí thuộc Thủy.2.Táo Khí thuộc Kim.3.Hỏa Khí thuộc Tướng Hỏa.Đó là 3 loại Dương Khí.3 loại Âm Khí là : 4.Thử Khí hay Nhiệt Khí thuộc Quân Hỏa.5.Phong Khí thuộc Mộc.6.Thấp Khí thuộc Thổ.

Sáu loại KHÍ này có tác động xấu đến cơ thể như sau :


1.Hàn Khí hại gan : Giận dữ cũng làm hàn khí nghịch lên hại gan.

2.Táo Khí hại phổi :Vui mừng quá độ làm táo khí kết lại hại phổi.

3.Hỏa Khí hại tim : Buồn rầu làm thủy khí tiêu tán không khắc chế được hỏa khí nên hại tim.

4.Thử Khí hại thận : Sợ hãi quá khiến nội khí bế tắc tạo điều kiện cho thử khí làm hại thận.

5.Phong Khí hại tâm bào,tam tiêu :u uất trầm cảm khiến cơ thể không chống chịu được phong khí nên tâm bào và tam tiêu bị tổn thương..

6.Thấp Khí hại tỳ : Lo nghĩ làm khí kết lại không thông được nên thấp khí phát triển làm hại tỳ.

Như thế,ta thấy được mối quan hệ giữa trạng thái tâm lý với sự biến đổi sinh lý.Đó là lý do khiến một số trung tâm nghiên cứu y học lớn trên thế giới kết luận rằng "khoảng 90 phần trăm các loại bệnh tật đều có nguồn gốc tâm lý"

Hình như chưa có một giải thích thỏa đáng nào nào về cơ chế tác động của tâm lý đối với sinh lý.Tất cả chỉ là mô tả,nhưng hệ quả của nó thì đã được thừa nhận từ ngàn xưa tới nay.Chính vì thế mà cuộc đấu tranh của y học với bệnh tật không thể chấm dứt,bởi còn đau khổ thì còn bệnh tật,cho nên con người phải tìm tới một giải pháp khác là tôn giáo.Bất kỳ tôn giáo nào cũng có tác dụng xoa dịu nỗi đau của con người,làm thăng bằng tâm lý như một liệu pháp tinh thần hữu hiệu.Môn Khí Công dù không phải là một tôn giáo,nhưng tập luyện khí công với mục đích đạt đới sự hư tĩnh trọn vẹn của thân tâm cũng là một liệu pháp hữu hiệu chữa lành mọi khổ đau.

Cũng giống như KHÍ và chất,điện và trường,âm và dương : Tinh thần và thể chất là một chỉnh thể thống nhất trong một vũ trụ đồng nhất.Bảo vệ được tính thống nhất đó là bảo vệ được sự vẹn toàn của KHÍ,trả lại cho "Caesar những gì của Caesar".

Có thể kết luận KHÍ bằng 2 câu kinh :

1.Kinh Dịch nói rằng :"Luật trời không ở đâu xa.Luật trời biến dịch trong ta hài hòa."

2.Tâm kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa nói :"Xá Lợi Tử,sắc bất dị không.không bất dị sắc.Sắc tức thị không.Không tức thị sắc..."


                              YÊN HỒNG

DỊCH


 









 .










 












Sự đổi thay dường như là quy luật tất yếu của tự nhiên mà không ai trong chúng ta không cảm nhận.

Trong phạm vi con người và xã hội thì ta dễ cảm nhận được sự đổi thay.Nhưng khi ngắm nhìn non sông cẩm tú hoặc bầu trời đầy sao kỳ vĩ,ta lại có cảm giác như có một cái gì đó vĩnh hằng.Rồi đến khi giở những trang sách địa chất và thiên văn ra,cảm giác về sự vĩnh hằng đó lại tan biến như một làn mây mỏng giữa bầu trời bao la !

Sự đổi thay tựa như những làn sóng nhấp nhô trùng trùng điệp điệp,làm thế nào lần ra được đầu mối để nắm được quiy luật của nó ? Có lẽ đó là một khát vọng  cơ bản đeo đuổi con người từ ngàn xưa,đã đặt nền móng cho sự phát triển của Dịch học phương đông và khoa học phương tây.Viên đá nền tảng ấy chính là khái niệm nhị nguyên tương tác ( Hai thế lực đối lập,luôn luôn đối kháng nhau gây nên biến đổi ).

Núi sông nên thơ hữu tình khiến nhà thơ phải bồi hồi ngâm vịnh,họa sĩ phải phóng bút họa tranh.Nhưng triết gia lại nhìn thấy núi thì tĩnh tại,sông thì chuyển động không ngừng.Sông chảy quanh co thành một dòng liên tục.Những ngọn núi lặng yên tách biệt nhau bởi những thung lũng xanh dờn.Sông phải chảy để núi luôn là núi.Núi phải lặng yên để sông chính là sông.

Qua hình ảnh của núi sông,triết gia nhìn thấy từ bản thân mình đến thế giới quanh mình,đâu đâu cũng hiển hiện chuyển động và tĩnh tại,từ hơi thở vào ra,thức ngủ,làm việc và nghỉ ngơi,gió mây mưa nắng nóng lạnh bốn mùa...Chuyển động xảy ra như một dòng liên tục.Tĩnh tại hiển hiện như sự bất liên tục của chuyển động.Hai yếu tố này xem ra dường như đối lập nhau,nhưng chúng tạo điều kiện cho nhau sinh khởi,không thể thiếu nhau và dường như hòa quyện lẫn trong nhau.Chúng tiềm ẩn và hiển hiện trong khắp mọi sự vật như một thuôc tính của hiện hữu.

Nói sao đây để diễn đạt cái tri kiến trùng trùng điệp điệp ấy ! Làm thơ chăng ? Ngôn ngữ thông thường quả là bất lực,mỗi một lời đều có thể hiểu theo năm  bảy cách khác nhau,rất mơ hồ và không chuẩn xác ! Để diễn đạt được sự phong phú của tư tưởng và những cảm nghiệm sâu xa của kinh nghiệm cần phải có một hình thức ngôn ngữ với những biểu tương trừu tượng có tính khái quát rộng hơn ( như ngôn ngữ toán học hiện nay chẳng hạn,ví dụ như hệ nhị phân được ứng dụng trong ngôn ngữ tin học chỉ xử dụng hai con số : 1 và 0 mà trong máy tính có nghĩa là điện được nối hay điện bị ngắt ).Thế là triết gia phóng bút vẽ chuyển động như một vạch liền ( __ ) và tĩnh tại như một vạch đứt ( _ _ ).Họ gọi vạch liền là Dương và vạch đứt là Âm.

Có lẽ như lão Tử nói :"Đạo mà có thể gọi được thì không phải là cái Đạo thường hằng.Tên mà có thể gọi được không phải là cái tên vĩnh cửu "( Đạo khả đạo,phi thường đạo.Danh khả danh,phi thường danh./Lão Tử đạo Đức kinh,chương 1/),cho nên khái niệm Âm Dương chỉ là tương đối,cái ảo diệu của nó hoàn toàn được mã hóa bằng 2 biểu tượng ( __ ) và ( _ _ ).

Yếu tố tĩnh như một hạt mầm tiềm ẩn trong yếu tố động để biến động thành tĩnh ( __ có thể đứt ra thành _ _ ) ,và ngược lại cũng thế ( _ _ có thể nối lại thành __ ).Điều này nói lên một sự thật là không có bất kỳ một yếu tố nào là thuần nhất,đơn lẻ trong tự nhiên.Mỗi một yếu tố,dù được khái quát hóa tới mức đơn giản nhất,đều là một yếu tố kết hợp có động tính.Ví dụ như trong ngành vật lý hạt nhân,các nhà khoa học đều nhất trí rằng sự xuất hiện của một vi tử ( Particle : Hạt cơ bản ) phụ thuộc vào sự biến đổi qua lại của các vi tử khác.Đã từng có một số nhà khoa học giả định rằng có một loại vi tử họ đặt tên là Quac ( lấy cảm hứng từ một chuyện thần thoại ),là hạt cơ bản,nhưng cần phải có 3 Quac để hợp thành một vi tử.( Có sự tương đồng ý tưởng nào chăng với câu nói của Lão Tử : "Một sinh hai.Hai sinh ba.ba sinh vạn vật." )

Có lẽ người xưa đã biết không một yếu tố nào là thuần nhất đơn lẻ ,vì biến dịch xảy ra do các yếu tố đối lập luôn kết hợp và đối kháng nhau.Truyền thống tư duy của người phương đông thiên về trực giác hơn là luận lý.Qua nhiều đời quan sát và tư duy,họ cảm nghiệm được sự biến dịch của vạn vật dựa trên 2 yếu tố đối lập cơ bản xảy ra liên miên bất tuyệt tựa như một vòng tròn khép kín không có khởi điểm và chung cuộc.Không thể nào dùng lời nói để diễn giải kinh nghiệm ảo diệu này,người xưa đã mượn biểu tượng Âm ( _ _ ) Dương ( __ ) như một ngôn ngữ thiện xảo để lập nên tấm bản đồ về thực tại mà họ đã chiêm nghiệm được.

Để xây dựng nền tảng cho tấm bản đồ này,trước hết họ chồng 2 vạch giống nhau lên nhau ( = : Thái Dương.Hoặc == : Thái Âm) chúng sẽ loại trừ nhau để còn lại một liền và một đứt ( Thiếu Dương và Thiếu Âm,xin xem hình trên đầu bài ).Một liền một đứt cũng không hề yên vị,chúng thu hút nhau,hoán chuyển nhau tạo thành một chu trình khép kín không có khởi điểm và chung cuộc  : Từ Thái Dương đứt 1 dương thành Thiếu Dương.Từ Thiếu Dương đứt hết Dương thành Thái Âm.Từ Thái Âm nối một Dương thành Thiếu Âm.Từ Thiếu Âm nối 2 Dương lại quay về Thái Dương,rồi cứ thế mà tiếp diễn mãi...

Thế là từ Lưỡng Nghi ( Âm,Dương ) họ lập nênTứ Tượng ( Bốn biểu tượng có tính khái quát rất rộng : Thái Dương,Thiếu Dương,Thái Âm,Thiếu Âm )để mô tả yếu tính của một vũ trụ sinh động và nhất quán.

Một vũ trụ như thế chẳng ở đâu xa xôi,nó hiện hữu ở ngay trong chính mỗi con người.Nó là một bí ẩn diệu kỳ mà mỗi người chúng ta đều mang theo từ ngàn xưa.Nó được gọi là Thiên mệnh mà con người luôn mong muốn khám phá.Người xưa đã biết nhìn mây để dự đoán gió mưa,biết nhìn hành vi bất thường của các loài vật để dự đoán thiên tai.Đối với họ mỗi biểu tượng trong tự nhiên đều có ý nghĩa riêng của nó,hiểu được ý nghĩa ấy là hiểu được mênh trời.Những biểu tượng của tự nhiên gần gũi với cuộc sống của con người là đất,là trời,là nước,là lửa,là gió,là sấm chớp,là núi non,là ao đầm.Sự biến dịch của tứ tượng hàm tàng trong những biểu tượng ấy và trong khát vọng của con người như một thực tại sinh động.

Họ đã có trong tay cơ sở của tấm bản đồ thực tại là tứ tượng nên họ xây dựng tiếp bằng cách đem 4 vạch Dương chồng lên tứ tượng,rồi tiếp đến là 4 vạch âm,thế là họ lập nên 8 quẻ ( Bát Quái.Mỗi quẻ là một tổ hợp của 3 vạch âm dương.Có lẽ là "Nhất sinh nhị.Nhị sinh tam.Tam sinh vạn vật " chăng ? ) :

1. Càn ( Cứng cáp,mạnh mẽ.Càn vi Thiên,biểu tượng cho trời ).Xin xem hình thứ 8 ( Heaven ) theo hàng ngang từ trên xuống,hàng thứ 2 ở hình 8 quẻ trên đầu bài.

2.Khôn ( Nhu thuận.Khôn vi Địa,biểu tượng cho đất ).Hình thứ 1 ( Earth ) hàng thứ 1.

3.Li ( Sáng rỡ.Li vi Hỏa,biểu tượng cho lửa ).Xem hình thứ 6 ( Fire ) hàng thứ 2.

4.Khảm ( Hiểm trở.Khảm vi Thủy,biếu tượng cho nước ).Hình thứ 3 ( Water ) hàng thứ 1.

5.Cấn ( Yên tĩnh.Cấn vi Sơn,biểu tượng cho núi ).Hình thứ 2 ( Mountain ) hàng thứ 1.

6.Đoài ( Vui vẻ.Đoài vi Trạch,biểu tượng cho ao đầm ).Hình thứ 7 ( Lake ) hàng thứ 2.

7.Tốn ( Ùa vào.Tốn vi phong,biểu tượng cho gió ).Hình thứ 4 ( Wind ) hàng thứ 1.

8.Chấn ( Biến động.Chấn vi Lôi,biểu tượng cho sấm sét ).Hình thứ 5 ( Thunder ) hàng thứ 2.

Trong lịch sử văn minh nhân loại,người ta nhận thấy có 2 xu hướng phát triển : thuần lý và ứng dụng.Nhu cầu hiểu biết khiến các nhà tư tưởng đắm chìm trong chiêm nghiệm để khám phá chân lý.Nhu cầu thực tiễn khiến các nhà ứng dụng tìm cách vận dụng lý thuyết vào thực tế.Hai xu hướng này dường như phát triển song hành và hỗ trợ lẫn nhau,từ tôn giáo đến triết học và khoa học.

Có lẽ  tình hình đã xảy ra như thế đối với kinh Dịch khi các nhà sử học tìm thấy bằng chứng rằng người Trung Quốc cổ đại đã dùng Bát Quái trong phép bói cỏ thi vào cuối đời nhà Thương ( Ân ) đầu đời nhà Chu ( khoảng 1130 năm trước Công nguyên ).Sự vận dụng Bát Quái vào phép bói cỏ thi đạt được nhiều ưu điểm hơn phép bói bằng yếm rùa cổ xưa,từ phương pháp giản dị hơn đến hiệu quả chính xác hơn.

Những thuật bói toán khác nhau tồn tại trong truyền thống của tất cả mọi dân tộc trên thế giới từ ngàn xưa cho đến bây giờ.Điều đó nói lên khát vọng an toàn trong cuộc sống đầy bất trắc của con người là một nhu cầu chính đáng.Họ muốn biết trước vận mệnh của mình,một là để an tâm với những điều lành,hai là để có hy vọng tránh được điều dữ.

Đối với đa số trong giới có học thức tôn sùng khoa học hiện nay thì họ cho rằng bói toán là thói mê tín dị đoan của hạng bình dân.Nhưng đối với một số nhà khoa học có tầm cỡ của thế giới như nhà phân tâm học người Thụy Sĩ Carl Gustav Jung (1875-1961) thì ông nhìn bói toán từ một góc độ khác,có lẽ phù hợp với góc độ của cổ nhân đã từng sáng tạo ra ngôn ngữ biểu tượng của kinh Dịch.

Carl Jung là nhà phân tâm học nên ông rất quan tâm tới những biểu tượng của giấc mơ để khám phá thế giới tiềm thức của con người.Những hình ảnh của giấc mơ là phù phiếm và vô bổ trong nhãn giới của các nhà khoa học khác,nhưng đối với Jung chúng có một ý nghĩa rất đặc biệt.Trong tác phẩm Thăm Dò Tiềm Thức (Essai d'exploration de l'inconscient),ông giả định về sự tồn tại của cái gọi là "Tiềm Thức Tập Thể ".Ý tưởng này là chìa khóa giúp ông có thể giải mã được những hiện tượng mà người ta cho là mê tín dị đoan như bói toán và đồng bóng,bởi ông đã gặt hái được nhiều kinh nghiệm thực tế khi ông chu du khắp thế giới để thâm nhập vào các nền văn hóa cổ sơ của những dân tộc khác nhau,từ Phi Châu đến Ấn Độ và Trung Hoa.Chính ông là người viết lời bạt nổi tiếng cho dịch phẩm kinh Dịch đầu tiên từ tiếng Hoa ra tiếng Đức của học giả Richard Wilhelm.Ông đã nhìn ra những sợi tơ nhện dính mắc giữa ngôn ngữ biểu tượng của kinh Dịch với ngôn ngữ biểu tượng của giấc mơ nên đã có ý tưởng ứng dụng kinh Dịch vào việc khám phá thế giới bí ẩn của tiềm thức.

Ở chương "quá khứ và tương lai của tiềm thức" trong tác phẩm thăm dò tiềm thức,ông viết :"Tiềm thức không phải chỉ là cái kho chứa quá khứ của ta mà còn đầy dẫy những trạng thái tâm thần và ý tưởng sắp xảy đến...Những ý đó hiển lộ từ vực sâu tối thẳm của tâm hồn tựa như một bông sen..."

Như ta đã biết,nội dung chính yếu của Bát Quái là sự biến dịch bởi lưỡng nghi tương tác :"Cùng tắc biến.Biến tắc thông."Nhưng thông rồi không phải là hết.Quẻ 63 của kinh Dịch là quẻ Thủy Hỏa Kí Tế,nghĩa là đã xong.Nhưng quẻ 64 là quẻ Hỏa Thủy Vị Tế,nghĩa là chưa xong.Thế có nghĩa là thông rồi lại bế,lại cùng để rồi lại biến.

Với nội dung của một triết lý động như thế thì kinh Dịch không thể chấp nhận một dạng định mệnh tiền định cứng ngắt.Thế thì tại sao xem bói lại thấy đúng.Đến đây ta sẽ nhận ra mối tương quan giữa tiềm thức và nội hàm của Bát Quái.Qua nhận xét của Jung về quá khứ và tương lai của tiềm thức,ta thấy tiềm thức là một quá trình động chẳng khác gì Tứ Tượng.Những khát vọng của con người ẩn sâu trong tiềm thức luôn đùn đẩy nhau để ngoi lên bề mặt của ý thức như một cuộc biến thông đầy sáng tạo mà quá khứ và tương lại không còn phân biệt.Định mệnh của con người chính là kết quả của công cuộc sáng tạo đó.Nó không phụ thuộc chỉ riêng vào cá nhân,mà phụ thuộc vào nhiều yếu tố xã hội và tự nhiên khác.kinh Dịch đã mã hóa tất cả các mối tương quan đó trong 64 quẻ,mà khát vọng an toàn và hạnh phúc của con người là một phần trong đó ( được giảng giải chính yếu bởi Thoán Truyện và Tượng truyện ),nên khi xem bói ý thức của ta tác động đến những khát vọng thầm kín của tiềm thức và ta nhận ra được cái định mệnh sáng tạo của chính mình.

Với nội dung hạn hẹp của entry này tôi không thể trình bày tất cả 64 quẻ của kinh Dịch.Các bạn nào muốn đi sâu vào lãnh vực Dịch học có thể tham khảo kinh Dịch,bản dịch của Ngô Tất Tố,của Phan Bội Châu,Dịch Học Tinh Hoa của nguyễn Duy Cần và Kinh Dịch,Đạo Của Người Quân Tử của Nguyễn Hiến Lê. Tôi chỉ có thể nói vắn tắt rằng sự xuất hiện của 64 quẻ là do cổ nhân đã lần lượt chồng 8 quẻ của Bát Quái lên nhau,gọi là trùng quái.Thế là họ đã có được một bản đồ chi tiết về thực tại mà từ đó họ có thể diễn giải nhân sinh quan,vũ trụ quan của mình,tựa như một nhà khoa học diễn giải mô hình toán học của một lý thuyết khoa học bằng ngôn ngữ phổ thông.

Thông qua kinh Dịch ta có thể ngộ ra lẽ biến hóa của trời đất  cũng như trong chính bản thân ta để lựa chọn một khuynh hướng hành xử thích hợp trong đời.

Có lẽ Lão Tử đã ngộ ra chân lý ấy nên đã hành xử theo đạo vô vi.

Có lẽ Carl Jung đã ngộ ra chân lý ấy nên đã đi tìm cái "mịt mịt" ( tiềm thức ) thay vì cái "minh minh" ( ý thức ).

Có lẽ kahlil Gibran đã ngộ ra chân lý ấy nên đã viết: "Thấu hiểu ngôn từ là im bặt trong lòng.
Là buông xả theo dòng vô ngôn lặng lẽ..."

                        
                         YÊN HỒNG

Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2013

TÂM SƯ




1.
 H
n tôi đã dy cho tôi biết yêu mến nhng gì người khác khinh chê và kết bn vi nhng k mà h sĩ nhc.

H
n tôi đã dy tôi hiu rng tình yêu t nó tràn đy như nhau trong k yêu ln k được yêu.

Tr
ước kia tôi tưởng tình yêu trong tim tôi ta như si ch mành treo chuông.

Nh
ưng gi đây tôi hiu rng tình yêu như mt vòng hào quang mà khi đim là chung cuc và chung cuc cũng chính là khi đim.

Nó vây b
c tng trái tim và tri rng đến tt c mi trái tim.

2.
     H
n tôi đã dy tôi biết nhn ra cái đp b khut lp bi ngoi hình vi đy đ đường nét và sc màu đc đáo.
H
n tôi đã dy tôi biết suy gm li nhng gì thiên h chê bai cho đến khi v đp đích thc ca nó l ra  trong dt dào xúc cm.

Tr
ước kia tôi ch thy cái đp như mt ngn đuc lung lay gi đám khói mt mù.

Nh
ưng gi đây khói đã bay tan,tôi chng thy gì ngoài ngn la.

3.
H
n tôi đã dy tôi biết lng nghe nhng tiếng nói không được tht thành li.

Tr
ước kia tôi chng nghe gì ngoài nhng tiếng thét gào khóc lóc rên siết th than.

Gi
đây tôi biết lng nge nhng âm thanh ca tĩnh lng vi bn hp xướng ca hư không ca tng nhng bí n ca vô hình.

4.
H
n tôi đã dy tôi biết thưởng thc th rượu nho chng th ép và chng th rót ra chén cc đ nâng lên môi.

Tr
ước kia lòng khao khát ca tôi ch như mt đm la gia đng tro,ch cn mt ngm nước là tt ngóm.

Nh
ưng gi đây lòng khao khát ca tôi đ biến thành chén cc,xúc cm biến thành rượu và cô đơn là thú say sưa.Gia sa mc khát khao vô đ này hin ra mt c đo xanh nim vui vĩnh cu.

5.
H
n tôi đã dy tôi biết chm tay vào nhng gì chưa được hin hình.

Tr
ước kia tôi tưởng nhng gì ta s mó được đu là hin thân ca dc vng.

Nh
ưng gi đây nhng ngón tay tôi đã biến thành sương mù thm nhp vào nhng th hu hình trong vũ tr và hp nht vi nhng th vô hình.


6.
H
n tôi đã dy tôi biết hô hp th hương thơm mà chng loài hoa hay hương liu nào lan ta.

Tr
ước kia tôi ch biết mê say hương hoa trong vườn và hương trm trong nhà.

Nh
ưng gi đây tôi hít đy lng ngc mt th hương thơm mà chng ngn gió nào có th đùa ct cun đi.

7.
H
n tôi đã dy tôi biết nói tiếng SN SÀNG trong tng giây phút.

Tr
ước kia tôi quyết không bao gi đáp li nhng tiếng gi xa l và không bao gi bước đi trên nhng li không quen.

Gi
đây bng TINH TN và TRÍ HU,tôi s đáp li mi tiếng gi và bước đi trên mi no đường.

8.
H
n tôi đã dy tôi biết thi gian là vô hn.

Tr
ước kia tôi nui tiếc quá kh và mơ tưởng tương lai.Tôi cho rng quá kh không bao gi tr li và tương lai không bao gi vươn ti.

Gi
đây tôi biết rng phút giây hin ti cha đng c quá kh tương lai mà ta có th hy vng và thc hin.

9.
H
n tôi đã dây tôi biết không gian là vô biên.

Tr
ước kia tôi phân bit không gian nên su kh vì xa cách.Mi bước tôi đi là mi min không gian tách bit chia lìa.

Bây gi
tôi nhn ra nơi nào mình hin hu là nơi đó dung cha tt c mi không gian.Mi bước tôi đi là mi khong cách ôm choàng mi khong cách.

10.
H
n tôi đã dy tôi biết thc khi k khác ng và ng khi k khác thc.

Tr
ước kia tôi cho rng không ai có th mơ được gic mơ ca người khác.

Gi
đây tôi biết rng tôi có th chiêm ngưỡng gic mơ ca người khác cũng như h có th chiêm ngưỡng nhng gic mơ tôi.

11.
H
n tôi đã dy tôi ch vui vì tiếng khen và ch bun vì tiếng chê.

Tr
ước kia tôi b tiếng đi chi phi vì không hiu được giá tr ca cn lao.

Bây gi
tôi nhn ra rng hoa c n r mùa xuân và kết trái mù hè mà không cn tiếng khen.Cây ci rng lá mù thu và trn trung mùa đông mà chng s tiếng chê.

12.
H
n tôi đã dy tôi biết tôi chng hơn gì người tí hon mà cũng chng kém gã khng l.

Tr
ước kia tôi hay thương hi k yếu và chng đi k mnh.

Gi
đây tôi biết rng tôi ging c hai.Ci ngun ca tôi cũng là ci ngun ca h.Ý thc ca tôi là ý thc ca h.Cuc đu tranh ca tôi là cuc đu tranh ca h và hành trang ca tôi cũng chính là hành trang ca h.

N
ếu h phm ti thì tôi không th vô ti.Nếu h biếng nhác thì tôi cũng biếng lười và nếu h chăm lo vic thin thì tôi cũng chăm lo.

13.
H
n tôi luôn nhc nh tôi :

"Ng
n đuc trên tay ngươi chng phi ca ngươi.
Bài ca ng
ươi đang hát chng phi do ngươi sáng tác.Bi l dù ngươi cm ngn đuc nhưng ngươi không phi là ánh sáng.Dù ngươi là cây đàn nhưng ngươi không phi là nhc sĩ khy đàn.

14.
H
i các bn thân thương,hn tôi đã dy tôi nhiu điu và chc hn hn bn cũng dy bn nhiu điu tương t.

B
i vì bn vi tôi tuy hai mà mt.Chng có gì khác bit gia chúng ta dù tôi có hăm h nói nhiu còn bn thì thanh bình im lng.Tôi phát ngôn t tn cùng tâm thc tôi và bn im lng trong tn cùng tâm thc bn.

T
t c đu cùng chung mt bí n và cha đng mi bao la.

                            KAHLIL GIBRAN



To see a World in a Grain of Sand
And a Heaven in a Wild Flower,
Hold Infinity in the palm of your hand
And Eternity in an hour.

— William Blake. Auguries of Innocence (1789).

Để nhìn thấy thế gian trong hạt cát
Và thiên đàng giữa một đóa hoa rừng
Hãy nắm lấy vô biên trong bàn tay của bạn
Và từng giây thấy vĩnh cữu không ngừng.  


      YÊN HỒNG phỏng dịch